Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo ngày cho truy vấn chế phẩm sinh học. Sắp xếp theo mức độ liên quan Hiển thị tất cả bài đăng

'Lênh đênh' nghề nuôi cá bớp

“Ngày biển lặng đã đành, phải khi sóng to gió lớn, ngồi một chỗ còn khó, huống hồ đi lại để chăm sóc cá. Nhọc, nhưng năm nào cá bán được giá thì sống khỏe” - Chị Phan Thị Kim Sang, một trong những người đầu tiên đến đảo Hòn Chuối nuôi cá bớp chia sẻ.

Những bè cá bớp. Ảnh minh họa.

Đổi đời nhờ cá bớp

Đến đảo Hòn Chuối (huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau), tôi thực sự bất ngờ khi được thưởng thức các món ăn từ cá bớp do cán bộ, chiến sĩ (CBCS) Đồn Biên phòng Hòn Chuối chế biến. Miếng cá nạc, giòn thơm, vị ngọt tự nhiên không giống với món ăn nào khác. Đĩa lòng cá hấp dẫn với những miếng dạ dày giòn sần sật, trứng cá, gan cá thơm, mềm và không có mùi tanh. Thú vị hơn cả, khi các chiến sĩ cho biết, đây là sản phẩm cá bớp do người dân nuôi ở chính đảo Hòn Chuối. Không chỉ là thực phẩm bổ dưỡng, cá bớp còn đang giúp nhiều hộ dân vốn ăn bữa nay lo bữa mai, vươn lên làm giàu.

Theo Thiếu tá Nguyễn Văn Hệ, Phó Đồn trưởng Đồn Biên phòng Hòn Chuối, năm 2010, một số hộ dân ở thị trấn Sông Đốc, thậm chí ở tận Kiên Giang đã ra đảo Hòn Chuối nuôi loài cá này. Không ngờ, vùng biển quanh đảo lại rất phù hợp với cá bớp. Cá lớn nhanh, ít dịch bệnh, chất lượng thịt cá thơm ngon đặc biệt. Từ đây, nhiều người dân ở đảo Hòn Chuối cũng học hỏi kinh nghiệm, làm hộc để nuôi cá. Một số người còn bỏ cả nghề đi biển để tập trung nuôi cá bớp. Có thời điểm, quanh đảo Hòn Chuối có hơn 50 hộ dân nuôi cá. Với thời gian nuôi khoảng 6 – 7 tháng, cá đạt trung bình 8-10kg thì xuất bán, mỗi hộc cá lời từ 30 – 50 triệu đồng.

Bị hấp dẫn bởi các món ăn chế biến từ cá bớp, lại nghe thông tin cá bớp đang có giá bán tới 160.000 đồng/kg mà không có để bán, nên sáng hôm sau, tôi háo hức theo chân CBCS Đồn Biên phòng Hòn Chuối đến với những bè nuôi cá bớp quanh đảo. Đón chúng tôi lên bè cá bằng nụ cười thân thiện, chị Phan Thị Kim Sang và chồng là anh Lê Văn Út, cho biết: “Vợ chồng tôi là một trong số hộ đầu tiên ra đảo Hòn Chuối nuôi cá. Đến nay, gia đình đã có 20 hộc cá”.

Theo cách tính của chị Sang, nếu trung bình mỗi hộc nuôi khoảng 200 con, thì nguyên tiền cá giống đã gần 30 triệu đồng/hộc. “Đợt vừa rồi, gia đình mua 1.500 con giống, với số tiền hơn 200 triệu đồng. Mang về đến bè, cá chết bớt, còn chưa đến 1.200 con”. Cũng theo chị Sang, sở dĩ, cá giống đắt như vậy bởi đây hoàn toàn là cá tự nhiên, được các ghe lớn đánh bắt ở vùng khơi mang về. Quá trình vận chuyển về đến đảo, một số con bị chết.

Vừa dẫn tôi đi xem những hộc cá nối dài, bên trong là vô số những con cá to bằng cổ tay, chị Sang vừa kể: “Cá bớp được nuôi hoàn toàn bằng cá cào, cá lưới bao, ngoài ra không cho ăn thêm bất kỳ thức ăn nào khác. Hiện, 1.500 con cá nhà tôi tiêu tốn 300kg thức ăn/ngày, tương đương 2 triệu đồng. Thời điểm gia đình nuôi nhiều nhất là 7.000 con, chi phí thức ăn hết mười mấy triệu đồng/ngày. Cái hay là cá bớp có thể nhịn ăn vài ngày vẫn sống khỏe”.

Năm 2017, khi cá bớp đạt giá cao nhất từ trước đến nay (160.000 đồng/kg), không ít hộ nuôi cá bớp ở Hòn Chuối bội thu hơn cả mong đợi. Ngoài những gia đình có thu nhập xấp xỉ tiền tỉ như gia đình anh chị Sang -  Út, các hộ khác như ông Tư Phương,  Kim Ngọc Tồn, Kim Ngọc Tuấn, Kim Ngọc Của... đều có thu nhập từ vài chục đến vài trăm triệu đồng.

Bám biển, trông cá, nuôi hi vọng

Có vượt biển đến với các bè cá, nghe người nuôi cá bớp kể chuyện mới hay, để có những lứa cá chất lượng, năng suất cao, người nuôi cá cực khổ trăm bề. “Sóng yên thì khỏe; sóng to thì cực, các hộc cá vì bị giật, mà di chuyển để chăm sóc cá gặp rất nhiều khó khăn” - Chị Sang chia sẻ trong lúc cố gắng giữ để tôi có thể đứng vững được trên các hộc cá liên tục tròng trành bởi sóng gió. Làm việc cách đất liền cả 3 giờ chạy tàu, cuộc sống của những người nuôi cá bớp ở Hòn Chuối gói gọn trên những con tàu, 24 giờ mỗi ngày là 24 giờ lênh đênh cùng sóng gió. Tổ ấm của họ chính là những con tàu với không chỉ chỗ ngủ, bếp nấu ăn, mà còn có cả ti vi, máy phát điện, dàn năng lượng mặt trời.

Từ thị trấn Sông Đốc, anh Võ Văn Phong ra đảo Hòn Chuối nuôi cá bớp đã được 6 năm. Một mình xoay xở với 6 hộc cá, vui buồn ra sao, anh đã nếm đủ. “Cá khỏe không sao, thi thoảng cá bệnh, lo muốn chết vì bao nhiêu vốn liếng đổ cả vào đây, chỉ riêng mỗi điều trị bệnh lở loét thân cá bớp đã tốn biết bao nhiêu là chi phí...” – Anh cho hay. Minh chứng cho lời anh Phong nói là câu chuyện về hơn chục hộ dân vay tiền để nuôi cá bớp đúng năm bị ảnh hưởng từ vụ ô nhiễm môi trường ở Formosa Hà Tĩnh (năm 2016), cá bán không ai mua, người nuôi điêu đứng, nhiều hộ vay tiền để đầu tư nuôi cá phút chốc trắng tay.

Vẫn còn nhớ như in nỗi buồn của người nuôi cá bớp khi ấy, ông Tư Phương, Tổ trưởng Tổ tự quản ở đảo Hòn Chuối, cũng là một trong những người đầu tiên nuôi cá bớp ở đây cho hay: “Năm 2016, có đến hơn chục hộ thất bại vì nuôi cá bớp đã bỏ lại nhà cửa trên đảo để đi vào Bình Dương mưu sinh, kiếm tiền trả nợ. Năm nay, gia đình ông có 10 hộc cá, nhưng ông vẫn chưa thả cá giống hết. Vừa thả, vừa nghe ngóng xem sao”.

Ngồi trò chuyện cùng tôi trước cửa căn nhà dựng trên ghềnh đá, trong tiếng sóng xô, bọt tung trắng xóa..., ông Tư Phương trầm ngâm: “Những năm đầu nuôi cá bớp, người nuôi chỉ lo xoay xở tiền để đầu tư mà ít phải lo lắng về dịch bệnh, nhưng giờ đây, hiện tượng cá bị mù mắt, bỏ ăn, hay cá bị sứa cào lở da xảy ra ngày càng nhiều. Mới đây, người nuôi cá bớp ở Hòn Chuối đã “cầu cứu” Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau hỗ trợ, đưa các chuyên gia nuôi trồng thủy sản ra đảo khảo sát tìm nguyên nhân và đưa ra giải pháp khắc phục”. Theo ông Phương, rất có thể, tình trạng cá bị bệnh mù mắt là do nguồn nước bị ô nhiễm vì số lượng hộ nuôi cá tăng lên so với mấy năm trước, mật độ các bè cá cũng dày hơn. Bên cạnh đó, việc sứa biển bám vào các hộc nuôi cũng có thể là nguyên nhân khiến cá bị ghẻ lở, mù mắt.

Như nhiều công việc mưu sinh khác, việc nuôi cá bớp ở Hòn Chuối, nói theo cách của người dân nơi đây, cũng còn tùy hên-xui. Vậy nên, ngày lại ngày, những người nuôi cá bớp vẫn miệt mài chia sẻ cho nhau kinh nghiệm, chia cho nhau cả cân gạo, mớ rau trong ngày biển động, gom góp hi vọng về những lứa cá năng suất, được giá.

Theo: Mai Hoàng - Báo Biên Phòng / Tám Miền Tây t/h.


So sánh cá hồi nuôi và cá hồi tự nhiên: loại nào tốt hơn?

Cá hồi là một trong những món ăn bổ dưỡng, khoái khẩu của nhiều người nhưng bạn đã hiểu hết về các loại cá hồi chưa?

Với hàm lượng Omega dồi dào, thúc đẩy hoạt động não bộ nên cá hồi trở thành một trong những loại cá có lợi cho sức khỏe và được nhiều người ưa thích.

Cá hồi nuôi và cá hồi tự nhiên, loại nào tốt hơn?
Trên thị trường thường tồn tại hai loại cá hồi là: cá hồi tự nhiên và cá hồi nuôi. Vậy loại cá nào mới thực sự tốt cho sức khỏe bạn? Phải chăng cá hồi nuôi và cá hồi tự nhiên hoàn toàn giống nhau. Bài viết sau sẽ đưa đến cho bạn câu trả lời.

Cá hồi tự nhiên và cá hồi nuôi - cá nào tốt hơn?

Cùng đặt cá hồi tự nhiên và cá hồi nuôi lên bàn cân, ta có thể thấy ngay sự khác biệt về độ "chất" của từng loại cá.

Thịt cá hồi nuôi (bên trái) và thịt cá hồi tự nhiên (bên phải).
Cá hồi đánh bắt tự nhiên có phần thịt màu đỏ cam tươi cùng những "thớ" chất béo trắng nạc, nhỏ li ti có được là nhờ các loại sinh vật biển như tôm cua, côn trùng tự nhiên, tảo đỏ... mà cá hồi đã tiêu thụ trong lòng đại dương.

Bởi vậy, hương vị của cá hồi tự nhiên thơm, thịt chắc, thành phần dinh dưỡng ở cá hồi tự nhiên cũng vô cùng dồi dào: bao gồm chất béo, khoáng chất, vitamin và chất chống oxy hóa.

Trong khi đó, cá hồi nuôi thường có màu thịt nhợt nhạt hơn, cùng "dải" mỡ màu trắng đục, to hơn. Lý do là bởi cá hồi nuôi được "quây" trong những lồng hẹp và được nuôi dưỡng bằng chế độ ăn từ sản phẩm ngũ cốc, đôi lúc là nội tạng động vật... nên phần thịt có phần nhạt hơn.

Bên cạnh đó, khi có dấu hiệu bị bệnh, cá hồi nuôi được bổ sung thuốc kháng sinh, thuốc diệt nấm... để giúp ngăn ngừa bệnh và ký sinh trùng.

Ngoài ra, để cá hồi nuôi có màu hồng, người nuôi còn bổ sung thêm chất tạo màu nhân tạo để chúng có màu giống như cá hồi tự nhiên. Do đó, cá nuôi thường chứa lượng dinh dưỡng, chất béo và các axit béo Omega-3 ít hơn.

Bảng so sánh dưới đây sẽ giúp bạn có cái nhìn rõ hơn về chất dinh dưỡng mà cá hồi nuôi và cá hồi tự nhiên sở hữu.

Cách phân biệt cá hồi nuôi và cá hồi tự nhiên

Ăn cá hồi nuôi cần chú ý

Cần phải khẳng định rằng, các loại dịch bệnh và ký sinh trùng có trong đại dương tương đối ít nhưng chúng lại xuất hiện tràn lan trong các vùng chăn nuôi thủy sản.

Do đó, để có thể tồn tại, cá nuôi thường được tiêm vacxin hoặc các loại kháng sinh để không bị nhiễm bệnh.

Cá hồi nuôi tích tụ nhiều chất không tốt cho cơ thể

Telegraph và Seattle Times đưa tin, một nghiên cứu ở Mỹ mới đây đã phát hiện cá hồi được đánh bắt ở Seattle bị nhiễm khuẩn từ nguồn nước chứa 81 loại thuốc, trong đó có thuốc kháng sinh và thuốc chống trầm cảm... Điều này cho thấy, nếu cá sống trong nguồn nước không đảm bảo thì rất dễ bị nhiễm các chất bẩn.

Năm 2004, trên trang web Sức khỏe của trường Đại học Harvard (Mỹ) công bố tìm thấy hóa chất tổng hợp Polychlorinated biphenyls (PCBs) trong cá hồi nuôi. PCBs có thể ngấm dần vào đất, nguồn nước hoặc di chuyển trong không khí và dễ dàng "tích tụ" trong chất béo, vì thế, cá càng béo như cá hồi thì càng có nguy cơ chứa nhiều chất độc hại.

Nghiên cứu sâu hơn, các chuyên gia phát hiện lượng mỡ ở cá hồi nuôi còn cao gấp 2 lần cá hồi tự nhiên, hàm lượng chất gây ung thư PCBs cao hơn 16 lần so với cá hồi tự nhiên, 4 lần so với thịt bò nuôi và 3,5 lần so với các loại hải sản khác. Và hầu hết các loại chất độc này nằm trong mỡ cá.

Như nói ở trên, cá hồi nuôi thường được ăn thêm chất tạo màu thịt để làm tăng độ hấp dẫn. Nhưng tiếc rằng, gần đây, một vài nghiên cứu cho thấy, chất tạo màu này có khả năng gây ung thư.

Bởi vậy, các chuyên gia khuyến cáo, nếu thường xuyên ăn cá hồi, bạn hãy tinh tế chọn cá hồi tự nhiên hoặc cá hồi được nuôi bởi các công ty uy tín để tránh những nguy hại cho sức khỏe về sau.

Bởi, những người THƯỜNG XUYÊN ăn cá hồi nuôi bị nhiễm bẩn có thể có nguy cơ mắc chứng đãng trí hay quên, nếu lâu dài có thể dẫn tới mất trí. Đó là do PCBs hay chất tạo màu là loại hóa chất tổng hợp gây ô nhiễm nước - chứa nhiều độc tố gây hại cho sức khỏe.

Nguồn: Tổng hợp.

Mách nhỏ bà con cách đánh giá chất lượng dinh dưỡng ao nuôi bằng cách quan sát màu nước


Trong nuôi trồng thủy sản ta chú ý đến màu giả của nước nhiều hơn, vì qua đó có thể đánh giá sơ bộ môi trường nước đó giàu hay nghèo dinh dưỡng.

Có thể nói chưa bao giờ nuôi trồng thủy sản lại chứng tỏ được giá trị và tiềm năng to lớn về kinh tế trong nền nông nghiệp Việt Nam như hiện nay.

Với bất cứ quy mô nào, từ nuôi thâm canh với hình thức trang trại hay xen canh, quảng canh với hình thức hộ gia đình thì nuôi thủy sản vẫn mang lại lợi nhuận gấp nhiều lần so với trồng lúa trên cùng một diện tích. Điều này hoàn toàn đúng với câu nói “muốn giàu nuôi cá” được ông cha ta truyền miệng từ bao đời nay.

Tuy nhiên, lợi nhuận lớn cũng đồng nghĩa với rủi ro cao, đặc biệt là trong hoàn cảnh nghề nuôi thủy sản của nước ta chưa thật sự đạt tới trình độ tiên tiến và hiện đại. Các hộ nuôi nhỏ lẻ vẫn chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của bản thân là chính.

Việc đầu tư để mua sắm các trang thiết bị như các bộ kit kiểm tra môi trường hay kính hiển vi được một số người nuôi xem như là một khoản chi phí không cần thiết. Chất lượng nước sẽ được đánh giá chủ yếu bằng cách quan sát màu nước trong ao nuôi, đây là một biện pháp đơn giản, dễ thực hiện.

Tuy nhiên, nếu không có kiến thức đầy đủ về màu nước trong ao nuôi thủy sản, người nuôi cũng sẽ dễ bị nhầm lẫn và đánh giá không đúng về hiện trạng chất lượng nước.

>> Có thể bạn đang cần: Cách khắc phục nước ao nuôi tôm bị mất màu trong tháng nuôi đầu tiên

Trên thực tế, nước trong ao nuôi thường có màu do sự xuất hiện của các hợp chất hữu cơ hòa tan hay không hòa tan, hay do sự phát triển của tảo. Có thể chia màu nước là 2 dạng, màu thực và màu giả. Màu thực của nước là màu do các hợp chất hòa tan trong nước gây ra, màu giả là màu của các hợp chất không hòa tan. Trong nuôi thủy sản ta chú ý đến màu giả của nước nhiều hơn, vì qua đó có thể đánh giá sơ bộ môi trường nước đó giàu hay nghèo dinh dưỡng. Trong ao nuôi thường có các màu sau:

Nước màu xanh nhạt (đọt chuối non)

Màu xanh nhạt do sự phát triển của tảo lục (chlorophyta), loài tảo này thường phát triển mạnh trong môi trường nước ngọt hoặc nước lợ nhạt (dưới 10 phần nghìn).

Đây cũng là màu nước thích hợp nhất để nuôi thủy sản, tảo lục ngoài việc đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn, còn có tác dụng ổn định các yếu tố thủy lý hóa trong ao, hấp thu các chất hữu cơ thông qua đó làm giảm lượng khí độc trong ao. Người nuôi nên cố gắng duy trì màu nước xanh nhạt, như vậy các loài thủy sản sẽ phát triển tốt hơn.

Nước màu xanh đậm (xanh rêu)

Nước có màu xanh đậm là do sự phát triển của tảo lam (Cyanophyta), loài tảo này phát triển mạnh cả trong môi trường nước ngọt, lợ, mặn.

Nếu nước trong ao nuôi có màu này thì cần có biện pháp làm giảm lượng tảo, vì đây là loại tảo không tốt cho các loài thủy sản. Hơn nữa, nếu tảo lam phát triển quá mức có thể tiết ra chất độc làm chết cá. Bên cạnh đó, còn có thể gây thiếu oxy về đêm do tảo hô hấp quá mức.

Màu vàng nâu (màu nước trà)

Nước có màu vàng nâu do sự phát triển của tảo silic (Bacillariophyta), loài tảo này thường phát triển mạnh ở môi trường nước lợ, mặn vào đầu vụ nuôi. Đây là màu nước thích hợp nhất để nuôi các loài thủy sản nước lợ, mặn.


Màu vàng cam (màu gỉ sắt)

Màu này thường xuất hiện ở các ao nuôi mới đào trên vùng đất phèn. Màu cam là do đất phèn tiềm tàng (FeS2) bị oxy hóa tạo thành các váng sắt.

Đối với ao có màu nước vàng cam cần có biện pháp khử phèn trước khi thả nuôi, có thể sử dụng vôi nông nghiệp hay bơm, xả nước nhiều lần để rửa trôi lượng phèn trong ao. Đối với các ao đang nuôi thì cần rải thêm vôi trên bờ ao để tránh hiện tượng pH giảm đột ngột khi trời mưa.

Màu đỏ gạch (màu đất đỏ)

Nước có nhiều phù sa do đất cát bị xói mòn từ vùng thượng nguồn được dòng nước mang đến vùng hạ lưu. Trong ao nuôi thủy sản ít khi có màu nước như vậy, tuy nhiên vùng ĐBSCL hay gặp nước đỏ gạch trên các con kênh, sông khi chuẩn bị sắp có lũ về.

Người nuôi cần lưu ý không nên cấp nước vào ao lúc này, vì lượng phù sa nhiều sẽ làm tôm, cá khó hô hấp và giảm khả năng bắt mồi. Tốt nhất là nên cấp nước vào ao lắng trước khi cung cấp cho các ao đang nuôi.

Màu nâu đen

Nước có màu nâu đen do trong nước có chứa nhiều vật chất hữu cơ. Màu nước này thường thấy ở các ao nuôi có hệ thống cấp, thoát nước không tốt, trong quá trình nuôi không quản lý tốt môi trường, cho ăn dư thừa nhiều sẽ dể làm nước ao nuôi có màu nâu đen. Trường hợp này hàm lượng oxy hòa tan rất thấp, vì vậy cần có biện pháp xử lý ngay.

Có thể thay nước nhiều lần đến khi hết màu nâu đen, hoặc kết hợp sử dụng thêm các loại chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản, hóa chất có thể hấp thu khí độc. Bên cạnh đó, nếu thấy tôm, cá có hiện tượng thiếu oxy cần sử dụng quạt đảo nước hoặc các loại hóa chất cung cấp oxy tức thời, nhằm làm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại.

Quan sát màu nước trong ao nuôi là phương pháp dễ thực hiện và mang lại hiệu quả cao. Nếu người nuôi có đầy đủ kiến thức về các loại màu nước sẽ có thể đánh giá chính xác được hiện trạng chất lượng nước.

Thông qua đó sẽ có những biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho tôm, cá sinh trưởng và phát triển. Có như vậy, chi phí đầu vào sẽ giảm thấp, lợi nhuận từ việc nuôi thủy sản cũng sẽ tăng lên đáng kể.

Nguồn: Lâm Trọng Nghĩa (Báo NNVN) - Tám Miền Tây t/h.

Chế phẩm vi sinh trong nuôi trồng thủy sản: Lợi ích và những điều bà con cần lưu ý


Sử dụng chế phẩm vi sinh trong nuôi thủy sản là hướng đi có ý nghĩa thực tiễn nhằm bảo vệ môi trường và đảm bảo hiệu quả sản xuất. Từ đó, góp phần đưa nghề nuôi thủy sản phát triển bền vững.

Chế phẩm vi sinh trong nuôi trồng thủy sản là gì?

Về hình thức, men vi sinh có 02 dạng, dạng nước và dạng bột (hay dạng viên). Bình thường, dạng bột có mật độ vi khuẩn có lợi cao hơn so với dạng nước.

Về chủng loại, men vi sinh có 02 loại, loại dùng để xử lý môi trường (loài vi khuẩn chính là  Bacillus sp.) và loại trộn vào thức ăn (loài vi khuẩn chính là Lactobacillus).

Hai thành phần chính của men vi sinh là vi khuẩn có lợi và các chất dinh dưỡng để nuôi vi khuẩn. Vi khuẩn có lợi được phân lập từ nhiều nguồn khác nhau. Chúng gồm các loài như Bacillus sp., Nitrosomonas, Nitrobacter... Chất dinh dưỡng là các loại như đường, muối canxi, muối magiê…

Các lợi ích mang lại khi sử dụng men vi sinh:

(1) Làm ổn định chất lượng nước và nền đáy trong ao nuôi tôm, cá.
(2) Nâng cao sức khoẻ và sức đề kháng của tôm, cá.
(3) Giảm thiểu ô nhiễm môi trường ao nuôi và xung quanh do nuôi thuỷ sản gây nên.
(4) Nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn.

Các lợi ích đạt được như trên là do hoạt động tích cực của vi khuẩn qua một hay nhiều cơ chế tác động:

(1) Cạnh tranh mạnh mẽ chất dinh dưỡng, năng lượng và giá thể với các loài vi khuẩn có hại khác và tảo độc.
(2) Chuyển hoá các chất hữu cơ như thức ăn dư, xác tảo, cặn bã thành CO2 và nước; chuyển các khí độc như NH3, NO2 thành các chất không độc như NH4+, NO3-.
(3) Hạn chế vi khuẩn có hại trong đường ruột và giúp chuyển hoá hiệu quả thức ăn.
(4) Tiết ra một số chất kháng sinh, enzyme để kìm hãm hay tiêu diệt mầm bệnh.

Để men vi sinh phát huy hiệu quả cao, người nuôi thủy sản phải tuân thủ một số nguyên tắc dùng sau đây:

- Hoà loãng men vi sinh bằng nước trong ao nuôi, cho vào xô, thau, sau đó sục khí 4 - 5 giờ đến khi men có mùi chua hay pH giảm thì đem bón.

- Định kỳ dùng trong quá trình nuôi. Thông thường 7 - 10 ngày/lần đối với loại xử lý môi trường và luân phiên sử dụng 5 ngày, sau đó ngưng 5 ngày đối với loại trộn vào thức ăn. Sử dụng cùng lúc với bón phân gây màu nước hay sau khi nước đã lên màu.

- Liều lượng dùng phải theo đúng theo đề nghị của nhà sản xuất.

- Khi môi trường ao nuôi có dấu hiệu hay đang suy giảm chất lượng như hàm lượng khí độc cao (NH3, H2S, NO2…), nước nhiều cặn bã, nước phát sáng thì men vi sinh được sử dụng sớm hơn so với thường ngày với liều lượng tăng gấp 2 lần so với đề nghị để xử lý khí độc trong ao nuôi tôm.

- Không được sử dụng men vi sinh cùng với các loại hoá chất có tính diệt khuẩn như BKC, thuốc tím, Chlorine, i-ốt, kháng sinh. Đồng thời, không được sử dụng men vi sinh khi các chất trên đang hiện diện trong môi trường nước hay trong thân tôm, cá nuôi.

- Trước khi bón men vi sinh cần cải thiện môi trường ao nuôi bằng các biện pháp như thay nước, bón vôi nâng pH lên 7,5 - 8,5, bón vôi + Dolomite + Khoáng nâng cao độ kiềm.

- Men vi sinh sẽ có hiệu quả sau khi sử dụng 2 - 4 ngày, thể hiện qua màu nước và các chỉ tiêu môi trường.


Một số điều lưu ý về chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản

Trong những năm gần đây, việc ứng dụng các giải pháp kỹ thuật thích hợp vào nuôi thủy sản ngày càng phát triển tích cực, đặc biệt là việc sử dụng các loại chế phẩm sinh học vì giúp nâng cao sức tăng trưởng, đề kháng của tôm, cá và hạn chế việc lưu tồn mầm bệnh trong nước, giảm thiểu các tác động gây ô nhiễm môi trường.

Các loại chế phẩm sinh học có nguồn gốc vi sinh vật là sản phẩm khai thác các dòng vi sinh vật có lợi mà khi được đưa vào môi trường nuôi thủy sản sẽ giúp cho tôm, cá tránh được một số bệnh do các dòng vi khuẩn có hại gây ra. Ngoài ra, một số vi sinh còn có tác dụng cải thiện khả năng hấp thu thức ăn của tôm, cá. Đồng thời, các dòng vi sinh này còn có khả năng thúc đẩy quy trình phân giải các chất hữu cơ hòa tan và không hòa tan trong môi trường nước và nền đáy ao nên giúp giảm thiểu đáng kể các nguồn khí độc hại đối với tôm, cá.

Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả sử dụng chế phẩm sinh học, bà con nuôi thủy sản cần lưu ý một số vấn đề sau:

- Thứ nhất, trên thị trường hiện nay có 3 dạng chế phẩm sinh học phổ biến là: dạng bột, dạng nước, dạng viên. Do đó, bà con cần lưu ý thực hiện đúng cách hướng dẫn sử dụng của mỗi dạng chế phẩm. Thông thường, loại chế phẩm sinh học có tính năng men tiêu hóa, bà con nên hòa thêm một ít nước rồi trộn vào thức ăn, còn loại chế phẩm có tác dụng xử lý môi trường nếu ở dạng bột, bà con có thể ngâm trong nước và sục khí một thời gian để chúng phát triển gia tăng số lượng vi sinh trước khi cho xuống ao đầm. Khi ngâm các sản phẩm này có thể cho thêm một ít đường để tăng tác dụng. Các sản phẩm dạng nước thì có thể sử dụng trực tiếp.

- Thứ hai, lưu ý ngoại trừ một số ít loại chế phẩm khuyến cáo chỉ sử dụng lúc trời nắng, còn lại đa số nên sử dụng lúc trời mát.

- Thứ ba, chỉ mua các sản phẩm có bao bì, nhãn mác, hạn sử dụng và số công bố chất lượng rõ ràng.

- Thứ tư, không sử dụng chế phẩm sinh học chung với kháng sinh và các loại hóa chất có tính diệt khuẩn.

Huỳnh Phương Thảo/ Trung tâm Khuyến nông Long An

Gây màu nước cho ao nuôi tôm và những lưu ý


Gây màu nước rất quan trọng trong nuôi tôm. Tuy nhiên, trên thực tế, hiệu quả của việc gây màu nước luôn không như mong muốn, có màu nước lợi cho tôm và cũng có màu nước lại gây hại cho tôm. Vì vậy, người nuôi tôm cần nắm vững quy luật thay đổi màu nước.

Nguyên tắc gây màu nước trước khi thả giống

- Nước được gây màu và các chất dinh dưỡng trong phân bón (đạm, lân, kali và các nguyên tố vi lượng khác) nên cân bằng giữa các chất.

- Phân vô cơ (phân hóa học) là sản phẩm hiệu quả tức thì, tuy gây màu nước nhanh nhưng thời gian duy trì ngắn; phân hữu cơ thuộc sản phẩm hiệu quả kéo dài, tuy gây màu nước chậm nhưng thời gian duy trì khá lâu. Hai loại kết hợp sử dụng một cách hợp lý có thể đạt được hiệu quả gây màu nước tốt vừa nhanh mà lại ổn định.

- Khi sử dụng phân vô cơ phải dựa vào tình hình ánh sáng mặt trời, dùng ít nhưng nhiều lần. Ánh sáng mạnh, thời gian chiếu sáng dài thì bón nhiều, ngược lại thì bón ít nhưng bón nhiều lần. Nếu không những ngày trời mưa, sau khi bón phân, phần lớn sẽ chìm xuống đáy ao, có khả năng khiến rêu xanh sinh sôi nhiều.

- Lượng phân bón cơ bản phải đủ, nhất định phải xem xét các chất dinh dưỡng đã có trong ao, chẳng hạn như bùn và kết cấu số lượng các chất dinh dưỡng cơ bản đã bón xuống ao. Nếu bùn đáy nhiều thì bón ít, bùn đáy ít hoặc ao mới thì bón một lượng thích hợp.

- Khi bùn đáy ít, nếu chỉ bón riêng chế phẩm vi sinh (khuẩn sống) thì hiệu quả gây màu tương đối kém, những khuẩn này sau khi xuống ao sẽ không gì có thể phân giải nó thành phân bón được.

- Bón phân sau khi thả giống nên bón ít nhưng nhiều lần, sử dụng ít hoặc thận trọng khi sử dụng phân đạm như phân urê, nếu không thì hàm lượng NH3 có thể sẽ tăng lên.

- Hàm lượng đạm lân thực tế trong nước vượt quá tỷ lệ 10:1 thì tảo Silic rất dễ sinh sôi phát triển mạnh; tỷ lệ đạm lân là 3:1 - 7:1, thậm chí gần 10:1 thì tảo lục dễ phát triển nhiều; nhưng tỷ lệ đạm lân xấp xỉ 1:1 thì các loại tảo như tảo Dinoflagellates hay tảo Flagellates độc hại dễ sinh sôi nhiều.

- Sau khi gây màu nước, độ trong suốt của nước nên nằm trong khoảng 30 cm. Nước màu xanh (xanh nhạt, xanh lục, xanh vàng hoặc màu đậu xanh) ổn định hơn so với nước màu nâu (màu trà, màu nâu sẫm). Muốn có được màu nước ổn định cần điều chỉnh số lượng, chủng loại phân bón.

Lợi và hại trong phương pháp gây màu nước theo thông thường

- Phương pháp gây màu nước thông thường trước tiên là dọn ao, giải độc, sau đó cho nước vào giải độc gây màu nước, trên cơ bản đã gây được màu nước, nhưng một tuần, nhiều nhất là khoảng nửa tháng thì nước lại trong và rớt tảo, quấn tảo. Nếu chỉ sử dụng những sản phẩm có chứa phân hóa học thì tuy phát huy tác dụng nhanh, nhưng thời gian ổn định không dài. Có không ít hộ nuôi sử dụng các phương pháp như: phân gà, vịt, lợn, bột chất lượng kém (vốn gọi là bột vàng), bã lạc, bã đậu, đường gạo thêm vào một ít phân hóa học hoặc các sản phẩm bán trên thị trường để gây màu, hiệu quả cũng rất ổn nhưng 10 - 15 ngày sau lại hết tác dụng. Đó là vì những dinh dưỡng được bón xuống nước không đầy đủ, không cân bằng dẫn đến hiện tượng thiếu hụt một vài chất dinh dưỡng (phần lớn là đạm đủ lân thiếu), một vài loại tảo bị ức chế sinh trưởng, mà cùng lúc lại có những loại tảo khác sinh trưởng dẫn đến quấn tảo.

- Có người sử dụng sản phẩm khuẩn sống (còn gọi là chế phẩm vi sinh hay sinh học) như: Vi khuẩn quang hợp, khuẩn Bacillus, khuẩn Nitrat… một số thấy hiệu quả ngay, một số hiệu quả không rõ rệt, tại sao lại như vậy?

Làm phép so sánh, khuẩn sống giống như nồi cơm điện và điện của chúng ta, các sản phẩm gây màu (như phân gà, đường gạo, bã đậu...) giống như gạo chúng ta bỏ vào nồi, bao nhiêu gạo thì nấu ra bấy nhiêu cơm. Khuẩn sống chủ yếu có tác dụng phân giải và phân giải từ từ, các chất dinh dưỡng bón xuống nước không nhiều hoặc ít bùn, tất nhiên là không đủ điều kiện gây màu, gây màu không đủ khó tránh khỏi nước thay đổi biến chất, đặc biệt là những ao mới, thời kỳ đầu cho ăn ít, chất bài tiết của tôm cũng rất ít, chất dinh dưỡng trong nước ao ít, hiệu quả sử dụng vi khuẩn làm sao có thể duy trì được trong thời gian dài đây? Trừ khi thêm vào các chất có đầy đủ dinh dưỡng vào trong sản phẩm khuẩn sống thông thường.

- “Axit amin gây màu nước”, sản phẩm này cũng phổ biến giống như chất gây màu nước axit amin, dầu gây màu nước axit amin, dịch gây màu axit amin, thành phần chủ yếu ngoài những axit amin phức hợp ra còn có peptit hoạt tính, nhiều vitamin và khoáng chất, thậm chí còn có cả khuẩn phức hợp có ích. Phát huy tác dụng nhanh, hiệu quả tốt, vì axit amin được sử dụng nhanh hơn các protein thông thường, dinh dưỡng phong phú, hiệu quả gây màu cũng duy trì được khá lâu, nhưng các axit amin sau khi phân giải chủ yếu sinh ra đạm, cũng có thể là do thiếu lân, kali hoặc các nguyên tố vi lượng… hoặc là tỷ lệ không cần bằng dẫn đến hiện tượng quấn tảo.

Nguyên nhân gây màu nước thất bại

- Số lượng tảo trong nguồn nước (nước ngầm, nước nghèo dinh dưỡng) phải cho vào ao ít, ví dụ như hồ cao triều, ao lót bạt, ao đất cát… không đủ dinh dưỡng, thiếu các muối dinh dưỡng mà các loại tảo cần để sinh trưởng;
- Sử dụng các thuốc giải độc có tác dụng phụ lớn, tiêu diệt các loại tảo và vi sinh vật, kìm hãm sự sinh trưởng và sự phát triển của nó;
- Nước ao axit;
- Mặc dù bón phân nhưng thiếu một vài loại muối dinh dưỡng hoặc đã mất tác dụng gây màu, các loại tảo cũng không phát triển nổi;
- Trời mưa, không đủ ánh sáng mặt trời hoặc là do nhiệt độ thấp kìm hãm tốc độ sinh sôi phát triển của tảo;
- Các động vật phù du ăn tảo trong nước nhiều (trùng bánh xe, các loại giáp xác chân chèo, Brine Shrimp);
- Trong nước có quá nhiều tảo tạp (Cladophora, Enteromorpha Prolifra, cỏ mương… vẫn gọi là “rêu”) ức chế sinh sôi phát triển của tảo đơn bào.

Đối sách

Tảo là một loại thực vật, bất kỳ loài thực vật nào sinh trưởng phát triển cũng cần có giống, phân, ánh sáng, thiếu một trong ba đều không được, do đó nếu muốn gây màu nước thì phải chuẩn bị ba việc sau đây:

- Giống tảo: Các loại tảo gây màu nước phải khỏe mạnh, đầy đủ chủng loại và cân bằng nhau.
- Phân bón: Dinh dưỡng trong phân bón cân bằng, hiệu quả nhanh và lâu dài đều.
- Ánh sáng: Không có ánh sáng thực vật không thể sinh trưởng phát triển được. Đồng thời các sinh vật có hại trong nước ít, pH, nhiệt độ nước thích hợp.

Trải lòng nuôi tôm mùa mưa lũ


Những cơn mưa liên tục kèm theo nguy cơ lũ lụt là nguyên nhân gây phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tôm nuôi. Kinh nghiệm quản lý môi trường ao nuôi trong mùa mưa, lũ là vô cùng quan trọng để góp phần đưa tôm nuôi vượt qua dịch bệnh, phát triển tốt.

Quản lý môi trường

Ổn định pH: Thông thường, pH trong ao tôm ở mức 7,5 - 8,5. Mưa lớn kéo dài, do tính chất axit của nước mưa cộng thêm quá trình rửa trôi phèn từ bờ xuống ao tôm làm cho pH môi trường ao tôm giảm. Do đó, để hạn chế tình trạng này, người nuôi cần theo dõi thông tin thời tiết, bón vôi trước và trong những trận mưa kéo dài. Rải vôi dọc theo bờ ao khi trời mưa với liều lượng 10 kg/100 m2. Nếu pH thấp, sử dụng vôi nông nghiệp CaCO3 liều lượng 10 - 20 kg/1.000 m3 nước ao tùy giá trị pH đo được (chạy quạt để trộn đều nước), xử lý từ từ cho đến khi pH nằm trong ngưỡng cho phép (từ 7,5 trở lên).

Kiểm soát độ kiềm:

Tôm sú có độ kiềm thích hợp là 85 - 130 mg/l; tôm thẻ chân trắng nằm trong khoảng 100 - 150 mg/l. Sau mưa, độ kiềm ao nuôi có xu hướng giảm, vì vậy, cần dùng vôi Dolomite ngâm vào nước ngọt trong 24 giờ, sau đó tạt đều xuống ao vào 8 - 10 giờ đêm với mức 1,655 g vôi Dolomite sử dụng cho cho 1 m3 nước sẽ tăng độ kiềm lên 1 mg/l. Ví dụ: muốn tăng độ kiềm của ao tôm 3.000 m3 từ 80 lên 90 mg/l thì cần 3.000 × 1,655 × (90 - 80)/1.000 = 46,65 kg. Lưu ý, mỗi lần tăng độ kiềm chỉ nên tăng khoảng 10 mg/l, bởi nếu độ kiềm tăng quá nhanh sẽ làm tôm bị sốc, sức đề kháng giảm.

Ngăn chặn nước ao bị đục:

Nguyên nhân làm nước ao tôm bị đục là do các chất hữu cơ, hạt sét bị nước mưa cuốn trôi từ trên bờ xuống ao tôm. Nước đục sẽ làm hạn chế khả năng quang hợp của tảo làm tôm thiếu ôxy, tảo thường tàn đột ngột, tôm bị đen mang, vàng mang do bị những vật chất lơ lửng trong nước bám vào mang tôm. Để khắc phục tình trạng này, có thể sử dụng muối vô cơ như nhôm sunfat (Al2(SO4)3) hoặc  thạch cao để làm trong nước. Sau khi nước giảm đục, cần tiến hành gây màu tảo để tạo môi trường ổn định cho tôm nuôi.

Ngoài ra, khi xuất hiện những cơn mưa lớn cần tăng cường chạy quạt nước để tránh sự phân tầng nhiệt độ, cung cấp thêm ôxy và tăng nhiệt độ nước. Sau những cơn mưa, phải đảm bảo mực nước ao nuôi tôm ổn định ở mức 1,2 - 1,5 m. Khi mực nước ao tôm cao do nước mưa, tiến hành xả bớt lượng nước tầng mặt để duy trì mực nước trong ao, đồng thời tránh làm giảm độ mặn đột ngột, tràn bờ, vỡ cống bọng. Khi mưa chấm dứt vài ngày, thời tiết nắng, tạo điều kiện vi khuẩn có hại phát triển, cần diệt khuẩn để giảm bớt mầm bệnh. Cấy vi sinh lại sau 2 ngày kết hợp với quạt nước, máy bơm, tăng cường hàm lượng ôxy hòa tan, kích thích vi khuẩn có lợi trong ao phát triển, ức chế vi khuẩn có hại, tăng cường phân hủy chất hữu cơ, hạn chế hiện tượng tảo phát triển quá mức.

Sử dụng chế phẩm sinh học

Bổ sung chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản phù hợp là yếu tố không thể thiếu khi nuôi tôm mùa mưa lũ, giúp tôm tăng cường khả năng chống chịu, tăng cường sức đề kháng, phòng các dịch bệnh có thể lây lan,...

Quản lý cho ăn

Khi thời tiết âm u kéo dài, có dấu hiệu sắp mưa cần giảm lượng thức ăn hoặc có thể ngưng cho ăn. Thông thường ở 18 độ C, tôm vẫn có thể bắt mồi nếu nhiệt độ giảm xuống từ từ hoặc đây là nhiệt độ hằng ngày trong mùa lạnh và lượng thức ăn chỉ 10 - 20% so với nhu cầu bình thường. Mỗi khi nhiệt độ giảm đi khoảng 20C thì lượng thức ăn giảm khoảng 30%. Nên kiểm tra nhiệt độ nước trong ao trước khi cho tôm ăn. Tôm ngừng ăn khi nhiệt độ giảm đột ngột từ mức thích hợp (28 - 30 độ C) xuống 22 độ C. Lưu ý, đảm bảo lượng thức ăn không được dư thừa, vì chính nó là nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường nước, dẫn đến sự nở hoa của tảo, tăng khí độc…

Bên cạnh đó, khi mưa kéo dài, tôm nuôi có thể bị mềm vỏ, khó lột xác do độ kiềm giảm thấp. Để khắc phục tình trạng này ngoài việc dùng Dolomite thì cần cho tôm ăn thức ăn chất lượng cao, trộn các loại Vitamin C, Vitamin tổng hợp và khoáng chất vào thức ăn hàng ngày để tăng sức đề kháng cho tôm.


Hiệu quả và giải pháp phát triển bền vững mô hình nuôi tôm-lúa


Nuôi tôm-lúa đã là nghề góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho nông dân nhiều vùng ven biển của đồng bằng sông Cửu Long. Hiện tại, hình thức nuôi chủ yếu là luân canh 1 vụ tôm- 1 vụ lúa. Diện tích sản xuất luân canh tôm-lúa trong khu vực tăng nhanh, đến nay ước đạt 160.000 ha, diện tích tiềm năng trên 200.000 ha, năng suất bình quân đạt từ 320-500 kg/ha, phần lớn tập trung tại các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau. Bạc Liêu, Tiền Giang, Sóc Trăng, Bến Tre…

Mô hình nuôi tôm- lúa mang lại hiệu quả kinh tế cao so với độc canh cây lúa trên cùng diện tích, trong thời gian qua đã phát triển khá ổn định và thể hiện tính bền vững. Năng suất nuôi được cải thiện qua từng năm do người dân đã có nhiều kinh nghiệm và áp dụng một số tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Theo đánh giá của các tỉnh và các cơ quan nghiên cứu thì đây là một mô hình mang tính bền vững và có hiệu quả kinh tế.

Nuôi tôm - lúa có nhiều lợi ích: Giảm chi phí làm đất, giảm phân bón, giảm thuốc bảo vệ thực vật, tạo sản phẩm lúa và tôm an toàn thực phẩm, đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng, mô hình nuôi bền vững, thân thiện môi trường. Mô hình tôm lúa nuôi với mật độ thưa nên tôm nhanh lớn, ít dịch bệnh. Do cấy lúa cải tạo được đất đáy, tạo môi trường tốt cho tôm phát triển.

Hiệu quả triển khai mô hình tôm lúa tại đồng bằng sông Cửu Long

Trong thời gian qua, bên cạnh việc phát triển các mô hình nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã rất quan tâm đến các mô hình nuôi tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long theo hướng bền vững, trong đó có mô hình nuôi luân canh tôm lúa. Từ năm 2011 đến nay, thông qua các chương trình Khuyến nông Quốc gia và các chương trình khuyến nông tại địa phương đã tổ chức các lớp tập huấn hướng dẫn tiến bộ khoa học kỹ thuật nuôi tôm- lúa và xây dựng các mô hình trình diễn để người dân có điều kiện được tham quan, học tập trao đổi kinh nghiệm sản xuất.

Năm 2011-2013, Bộ đã phê duyệt dự án khuyến ngư “Phát triển nuôi tôm lúa” do Trung tâm Khuyến nông quốc gia phối hợp Trung tâm Khuyến nông Sóc Trăng thực hiện. Dự án được thực hiện với quy mô 4 tỉnh: Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu và Sóc Trăng, với diện tích 190 ha và 190 hộ dân tham gia.

Kết quả triển khai cho thấy, việc trồng lúa trên đất nuôi tôm không xảy ra xung đột trong quá trình sản xuất, mà là mô hình thông minh. Vào mùa khô, nước ngoài sông rạch mặn thì lấy vào nuôi tôm, khi mưa xuống nước ngọt thì đưa vào trồng lúa. Trong hệ thống canh tác tôm- lúa, sau khi nuôi một vụ tôm thì tiến hành trồng một vụ lúa, khi đó những chất thải hữu cơ dưới đáy ao sau khi thu hoạch tôm sẽ làm cho ruộng lúa màu mỡ, người trồng lúa chỉ bón một lượng phân nhỏ là đáp ứng nhu cầu phát triển của cây. Bên cạnh đó, để tránh ảnh hưởng đến tôm nuôi, người dân phải áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp, ít sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (giảm 70-80%). Ngược lại, nuôi tôm sau vụ lúa thì nền đáy ao đã được khoáng hóa nên các chất độc hại giảm, hạn chế tình trạng vùng nuôi tôm bị lão hóa do đất bị ngập mặn lâu, đồng thời cắt phần mầm bệnh trong ao nuôi, môi trường ổn định, khi nuôi tôm không cần sử dụng nhiều thuốc, hóa chất, hạn chế chi phí sản xuất, lợi nhuận tăng cao.

Theo đánh giá của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, hệ thống canh tác tôm lúa hạn chế sử dụng hóa chất độc hại, sử dụng tài nguyên nước hợp lý theo từng thời điểm và mùa trong năm, thích ứng với điều kiện tự nhiên, thời tiết khí tượng thủy văn, tạo ra sản phẩm sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, từ đó nâng cao giá trị hàng hóa, tăng lên từ 2-3 lần so với chỉ cấy lúa. Ngoài ra, mô hình này giải quyết được vấn đề ô nhiễm nguồn nước, lão hóa vùng nuôi tôm, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh, tạo điều kiện giúp nghề nuôi phát triển bền vững.

Tuy nhiên, bên cạnh nhiều lợi ích thì mô hình này vẫn còn bộc lộ một số bất cập: Là mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến nên công trình chưa đảm bảo, bị rò rỉ, bị nhiễm phèn và không giữ được nước. Kỹ thuật về nuôi tôm-lúa của bà con còn hạn chế, chủ yếu nuôi theo kinh nghiệm nên năng suất bấp bênh và thiếu ổn định. Môi trường ngày càng ô nhiễm, độ mặn biến động lớn, thời tiết biến đổi gây biến động môi trường lớn. Hiện nay các vùng sản xuất tôm lúa nằm xen trong các khu nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh, hệ thống thủy lợi phục vụ mô hình tôm lúa chưa đồng bộ, vấn đề quản lý nguồn nước, dịch bệnh chưa chặt chẽ, còn thiếu sự liên kết, hợp tác trong người dân ở từng khu vực và giữa các bên có liên quan, để phát triển mô hình tôm lúa.

Ngoài ra, tôm giống chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, chất lượng, thời gian theo thời vụ không được khuyến cáo, người dân ít quan tâm đến chất lượng tôm giống. Sản xuất lúa phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nguồn nước ngọt, chưa có giống lúa đặc thù cho từng vùng sinh thái khác nhau, nên năng suất, chất lượng lúa thấp. Nông dân thiếu vốn sản xuất trong khi giá vật tư nông nghiệp không ổn định và cao so với khả năng đầu tư của nông hộ.

Giải pháp phát triển bền vững

Trước những lợi ích và bất cập của mô hình nuôi tôm-lúa, Trung tâm Khuyến nông quốc gia đã đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nghề này:

Tăng cường công tác quản lý chất lượng tôm giống, xét nghiệm và cho kết quả nhanh bệnh dịch trên tôm. Đầu tư nghiên cứu lai tạo ra các giống lúa có khả năng chịu mặn, chịu phèn tốt, kháng bệnh, năng suất và chất lượng tốt.

Để mô hình luân canh tôm lúa tiếp tục phát triển mạnh và bền vững, trong thời gian tới cần quy hoạch hợp lý các vùng luân canh, để có các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng phù hợp và chính sách tín dụng hỗ trợ sản xuất, khuyến khích sản xuất theo hướng liên kết, hợp tác. Nâng cấp các công trình nuôi trồng thủy sản, đặc biệt đối với hình thức nuôi luân canh tôm lúa, cần gia cố bờ bao, mương bao để đảm bảo ứng phó với hiện tượng biến đổi khí hậu, nước biển dâng trong thời gian tới.

Tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, chỉ nên nuôi 1 vụ tôm, 1 vụ lúa/năm. Mật độ nuôi chỉ nên duy trì dưới 8 con/m2, diện tích mương nuôi tôm chiếm không quá 30% tổng diện tích.

Tăng cường tập huấn kỹ thuật, nhất là quản lý môi trường nước và phòng trị bệnh trên tôm nuôi. Tổ chức các điểm trình diễn mô hình tôm- lúa cho nông dân tham quan, học hỏi kinh nghiệm, nhằm tăng hiệu quả sản xuất. Người dân cần liên kết và hợp tác trong sản xuất, để cải tạo đất, thả tôm giống, gieo cấy lúa theo lịch thời vụ.

Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về lợi ích và hiệu quả của hình thức nuôi tôm lúa.

Tầm quan trọng của việc ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản


Trước yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng đối với các mặt hàng thực phẩm thủy sản là phải an toàn, chất lượng, đòi hỏi người nuôi thủy sản phải tăng cường các biện pháp phòng bệnh nhằm hạn chế dư lượng các loại hóa chất và kháng sinh trong sản phẩm thủy sản để đáp ứng nhu cầu thị trường, nhất là thị trường quốc tế. Vì vậy, việc ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản (CPSH) được xem là chìa khóa góp phần cho sự thành công của nghề nuôi thủy sản thời hội nhập.

CPSH là sản phẩm có chứa các nhóm vi sinh vật (là những loài vi khuẩn sống có lợi) như nhóm: Bacillus sp., Lactobacillus sp., Nitrosomonas sp., Nitrobacter sp….

Ngoài ra, trong thành phần của một số CPSH có chứa các enzyme (men vi sinh) như Protease, Lipase, Amylase… có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa và giúp hấp thu tốt thức ăn.

Khi đưa CPSH vào môi trường nước ao, các vi sinh vật (VSV) có lợi sẽ sinh sôi và phát triển rất nhanh trong môi trường nước. Các VSV có lợi này được xem là “người lao động” rất cần mẫn trong ao nuôi, sự hoạt động của chúng có tác dụng:

– Làm sạch nước và đáy ao nuôi nhờ chúng phân hủy các chất hữu cơ trong nước, hấp thu chất dinh dưỡng hòa tan trong nước nên hạn chế tảo phát triển và vi sinh xử lý bùn đáy ao thủy sản giúp giảm lớp bùn đáy ao. Nhờ vậy, giúp ổn định pH nước, ổn định màu nước, giảm khí độc NH3, H2S… làm cho tôm cá khỏe mạnh, ít bệnh, ăn nhiều, mau lớn.

– VSV có lợi phát triển nhiều sẽ kìm hãm, ức chế, lấn át sự phát triển của VSV có hại do chúng cạnh tranh thức ăn và tranh giành vị trí bám với VSV có hại, do đó sẽ hạn chế được mầm bệnh phát triển để gây bệnh cho tôm, cá.

– Khi CPSH được sử dụng trộn vào thức ăn cho tôm, cá ăn sẽ nâng cao khả năng hấp thu thức ăn của cơ thể tôm, cá, làm giảm hệ số thức ăn và phòng, chống các bệnh nhiễm khuẩn đường ruột cho tôm cá.

Do vậy, việc sử dụng CPSH góp phần hạ giá thành sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế cho các mô hình nuôi thủy sản như:

Làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn (giảm hệ số thức ăn); tôm, cá mau lớn, rút ngắn thời gian nuôi; tăng tỷ lệ sống và tăng năng suất cho tôm, cá nuôi; giảm chi phí thay nước; giảm chi phí sử dụng thuốc kháng sinh, hóa chất trong việc điều trị bệnh; tạo ra sản phẩm an toàn, chất lượng và góp phần bảo vệ môi trường.

Các CPSH có tác dụng chính là phòng bệnh cho tôm, cá, cho nên cần phải sử dụng càng sớm càng tốt để phát huy tối đa hiệu quả phòng bệnh. Vì vậy, khi sử dụng CPSH cần lưu ý những yêu cầu sau:

– Nên sử dụng CPSH ngay sau khi cải tạo ao.

Vì trong quá trình cải tạo ao, diệt tạp thì hầu như các VSV (kể cả VSV có lợi và có hại) đều bị tiêu diệt. Do đó, trước khi thả giống vào ao nuôi cần phải đưa CPSH vào nước ao để phục hồi sự hiện diện của các VSV có lợi và tái tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho ao (đặc biệt là những ao ương tôm, cá giống).

– Khi sử dụng CPSH, ngoài việc xem trong thành phần có chứa các nhóm vi sinh (vi khuẩn có lợi) hay không, người sử dụng cần xem kỹ các công dụng và hướng dẫn sử dụng (có in ở ngoài bao bì) để tùy trường hợp cụ thể của mỗi ao nuôi tôm, cá mà sử dụng đúng theo công dụng và hướng dẫn để hiệu quả sử dụng CPSH đạt được cao nhất.

– Không sử dụng CPSH cùng lúc với các loại hóa chất và kháng sinh, vì kháng sinh và hóa chất sẽ làm chết các nhóm vi sinh của các CPSH, do đó việc sử dụng CPSH sẽ không có hiệu quả.

– Nếu đã sử dụng các loại hóa chất (Formol, thuốc tím, phèn xanh, BKC …) tạt vào ao nuôi thì khoảng 2 – 3 ngày sau nên sử dụng CPSH để khôi phục lại các nhóm VSV có lợi trong nước để cải thiện chất lượng nước và hạn chế ô nhiễm môi trường.

– Nếu đã sử dụng kháng sinh để trị bệnh thì sau khi ngưng sử dụng kháng sinh nên dùng các loại men vi sinh trộn vào thức ăn cho tôm cá ăn để khôi phục lại hệ men đường ruột vì thuốc kháng sinh đã làm chết hệ men đường ruột trong hệ tiêu hóa của tôm, cá.

– Cần lưu ý đến điều kiện bảo quản các CPSH ở các nơi cung ứng, vì các CPSH nếu để nơi có ánh nắng trực tiếp thì sẽ làm chết các nhóm VSV có lợi trong CPSH, do đó việc sử dụng CPSH sẽ không còn tác dụng.

Sử dụng CPSH trong quy trình nuôi thủy sản được xem là một tiến bộ khoa học – kỹ thuật, có ý nghĩa sâu xa là tạo được sự an toàn về môi trường, cũng như an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng. Vì sức khỏe con người và sự phát triển nghề nuôi thủy sản bền vững, hãy ứng dụng chế phẩm sinh học để sản xuất ra những sản phẩm thực phẩm thủy sản an toàn, chất lượng.

Theo: KS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG


Triển vọng mô hình nuôi tôm hữu cơ hiệu quả cao


Sản xuất hữu cơ là một trong những ngành sản xuất xanh có thể mang lại giá trị cho các sản phẩm của Việt Nam như tôm hữu cơ trên thị trường thế giới. Đồng thời, việc nuôi tôm theo hướng hữu cơ cũng hỗ trợ trong tiến trình bảo vệ bền vững dải ven biển của ĐBSCL.

Mô hình nuôi tôm hữu cơ

Hiện nay, mô hình nuôi tôm hữu cơ được một số tỉnh áp dụng như Cà Mau, TP Hồ Chí Minh đem lại hiệu quả bền vững.

Tại  TP Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Văn Nam, Chủ tịch UBND xã An Thới Đông (huyện Cần Giờ), cho biết: Vài năm trước, nhiều hộ nuôi tôm sú trong xã bị thua lỗ do môi trường nước ô nhiễm, bà con đã chuyển sang nuôi tôm hữu cơ, phát huy tốt lợi thế, mang lại hiệu quả thiết thực.

Xã An Thới Đông hiện có diện tích nuôi tôm sú khoảng 1.300 ha, trong đó nhiều hộ tự học hỏi kinh nghiệm nuôi tôm sú hữu cơ an toàn với diện tích từ 5 đến 7ha/hộ. Anh Đỗ Mạnh Hùng, trú tại ấp Doi Lầu, một chủ trang trại đang đầu tư ao tôm sú hữu cơ rộng 5ha, chia sẻ: “Hằng tuần, chúng tôi đều được cán bộ kỹ thuật của xã và Hội Nông dân hướng dẫn phương pháp chăm sóc tôm. Trung bình một héc ta, gia đình tôi đầu tư làm sạch ao, trải bạt xung quanh, xử lý nước… hết khoảng 20 đến 25 triệu đồng, tùy thời vụ. Song, cách nuôi hữu cơ bảo đảm cho con tôm phát triển ổn định, không bị dịch bệnh lây lan. Vì thế, cứ mỗi vụ tôm, thường 6 - 7 tháng/vụ, gia đình tôi thu hoạch được tôm sú loại 20 - 25 con/kg với giá khoảng 180.000 đồng/kg. Lãi suất cao hơn 10.000 đồng/kg so với cách nuôi thường”.

Nuôi tôm hữu cơ và nuôi tôm thông thường

có những điểm khác so với nuôi tôm sú theo phương pháp thông thường. Nguồn nước và môi trường là quan trọng nhất. Nguồn nước trước khi đổ vào ao tôm phải là nước biển sạch, có thả một số loại cá để giữ sinh thái ổn định. Sau ít ngày nước lắng đọng tạp chất xuống thì mới bơm nước biển mặn đó vào ao tôm, rồi thả tôm giống xuống. Ao tôm phải trải bạt từ phần tiếp giáp mặt nước đến tận đáy; mặt đáy ao là đất hữu cơ bình thường, không sử dụng bất cứ loại hóa chất nào. Con tôm sú giống được nuôi bằng bã đậu nành ủ với men chua trong vòng 45 ngày, sẽ nhanh lớn và tăng trưởng an toàn. Hiện nay, cách nuôi tôm này chi phí đầu tư thấp, hạn chế được dịch bệnh, không sử dụng kháng sinh nên phát triển khá nhiều tại huyện Cần Giờ. Theo thống kê, toàn huyện có hơn 20 ha, tập trung chủ yếu ở xã An Thới Đông và xã Lý Nhơn.

Đầu năm 2016, xã An Thới Đông có hai hộ thực hiện chuyển đổi mô hình sản xuất từ nuôi tôm thông thường sang nuôi tôm công nghiệp trải bạt lưới và nuôi tôm bằng thức ăn hữu cơ với tổng diện tích 12ha; mức đầu tư chuyển đổi khoảng 500 triệu đồng/ha.

Tính đến nay, sản lượng thu hoạch sau chuyển đổi mùa thuận đạt 40 tấn/ha, mùa nghịch đạt 10 tấn/ha. Thu nhập bình quân mỗi năm gần 1 tỷ đồng/ha, cao hơn nhiều so với cách nuôi tôm trước đây, góp phần nâng cao đời sống nông dân huyện Cần Giờ.

H.L (Tổng hợp)

Giải pháp mới điều trị bệnh đốm đen trên tôm thẻ chân trắng


Những đốm đen khó coi có thể xuất hiện trên thân tôm, tôm nguyên liệu không phải là hư hỏng, mà là do một en-zim sản sinh tự nhiên. Trong khi tôm nhiễm bệnh đốm đen hoàn toàn có thể ăn được, người tiêu dùng dứt khoát sẽ từ chối loại tôm này.

Ngành tôm chủ yếu sử dụng một trong hai phương pháp điều trị để kiểm soát bệnh đốm đen (melanosis): bột natri metabisulfite và 4-hexylresorcinal. Loại thứ hai là một phương pháp xử lý mới hơn, và theo một số phương diện thì tốt hơn, vì bột natri metabisulfite được sử dụng rộng rãi hơn nên rẻ hơn, nhưng mang một số nguy cơ đối với những người thực hiện việc xử lý tôm cũng như đối với một số người tiêu thụ tôm.

Sulfites là một chất bảo quản thông thường được sử dụng trong rượu vang và trong thịt xông khói, để giữ cho màu hồng hấp dẫn không bị chuyển sang màu nâu. Trước đây, chất này cũng được sử dụng cho rau diếp làm món xa-lát trong các nhà hàng, đặc biệt là khi món xa-lát trở nên phổ biến, cho đến khi Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) cấm sử dụng chất này với trái cây và rau quả tươi vào năm 1986. Đây là phản hồi đối với đơn kiến nghị của một nhóm người tiêu dùng, Trung tâm Khoa học vì lợi ích Cộng đồng, nhóm người đã muốn có một lệnh cấm trên phạm vi rộng hơn, do 13 người chết liên quan đến hóa chất này cho đến thời điểm đó.

Sulfites an toàn đối với hầu hết mọi người. Nhưng một số người, chủ yếu là người mắc bệnh hen, bị phản ứng dị ứng. Những người này phải cẩn thận tránh các loại thực phẩm được xử lý bằng sulfites, bao gồm rượu, trái cây sấy khô, một số sản phẩm thịt bảo quản - và tôm.

Theo FDA, những người nhạy cảm với sulfites chiếm khoảng 1% dân số - tương ứng với khoảng 3,2 triệu người Mỹ. Cơ quan này yêu cầu các thực phẩm được xử lý phải được dán nhãn về sự an toàn của thực phẩm nhưng nhãn hiệu có thể khiến những người khác không mua, vì nhãn cảnh báo có thể được xem là chất lượng kém ngay cả đối với những người không có phản ứng với sulfites. Đây là lý do chính để phát triển một phương pháp điều trị thay thế không gây dị ứng và không yêu cầu nhãn như vậy.

Các hợp chất hữu cơ 4-hexylresorcinal được sử dụng trong thuốc điều trị các bệnh về họng và kem dưỡng da (bao gồm cả sản phẩm Neutrogena), nhưng nó cũng liên kết và vô hiệu hóa các en-zim gây nên tình trạng đốm đen ở tôm. Có hai loại chính có sẵn để sử dụng với tôm là EverFresh và PrawnFresh.

Liên minh châu Âu, Canada, Nam Phi, Australia và Trung Quốc đều chấp thuận 4-hexylresorcinal như là một chất trợ giúp chế biến. Ở Mỹ, Mỹ có trạng thái “được công nhận là an toàn (GRAS)” của FDA. Tuy nhiên, Nhật Bản, một trong những thị trường tiêu thụ tôm lớn nhất thế giới, chưa chấp thuận việc sử dụng chất này - rõ ràng vì không có đơn nào xin phê duyệt.

Ngoài các vấn đề về dị ứng và các nhãn cảnh báo, 4-hexylresorcinal có một số lợi thế khác, cũng như một vài bất lợi. Natri metabisulfit có thể gây kích ứng mắt và mũi của công nhân khi xử lý tôm và có thể sản sinh khí sulfur dioxide khi tiếp xúc với nước, có thể gây tử vong cho người lao động trong không gian hạn chế của khoang tàu.

Theo một nghiên cứu năm 1993 của Đại học Y khoa Texas ở Galveston, sản phẩm natri có thể phản ứng trong điều kiện nhất định với nước và axit từ thân tôm để tạo ra sulfur dioxide. Lực lượng Cảnh sát biển Hoa Kỳ cho biết trong khoảng từ năm 1970 đến năm 1993, việc sử dụng hóa chất trong những khoang thuyền tôm không được thông gió trong các vùng nước nóng trong những tháng nóng của năm khiến 11 người chết và 32 người bị thương. Đây không phải là mối nguy với 4-hexylresorcinal.

Bất lợi của 4-hexylresorcinal chủ yếu là chi phí cao hơn. Một nghiên cứu năm 2006 của Sở Kỹ nghệ sơ cấp và Thuỷ sản Queensland ở Australia đã chỉ ra chi phí cho việc nhúng 1 kg tôm chế biến trong thời gian 60 giây vào sodium metabisulfite là 0,026 AUD (0,019 USD, 0,017 EUR), trong khi đó, với thời gian khuyến nghị là 2 phút - chi phí sử dụng EverFresh là 0,128 AUD (0,01 USD, 0,009 EUR). Việc ngâm tôm trong 24 giờ cho hiệu suất chi phí tốt hơn, nhưng có thể dẫn đến dư lượng cao hơn.

Theo: HNN, Tổng cục Thủy sản (Theo seafoodsource)

Nuôi tôm là nuôi nước


Trong năm 2015, hiện tượng tôm chết vì bệnh hoặc không rõ nguyên nhân trong khoảng 30 - 45 ngày đầu tiên hoặc chậm lớn xảy ra khá phổ biến ở nhiều vùng nuôi tôm trên cả nước. Nếu tôm giống có nguồn gốc rõ ràng, sạch bệnh thì nguyên nhân của các hiện tượng vừa nêu chủ yếu liên quan đến cách thức cải tạo ao hoặc quản lý chất lượng nước. Kinh nghiệm thực tiễn đã khẳng định người nuôi tôm sẽ thành công hơn nếu thực hành được nguyên tắc cốt lõi “nuôi tôm là nuôi nước”.

Để “nuôi” được nước, chúng ta cần hiểu về yêu cầu chất lượng nước ban đầu và diễn biến điển hình của nó trong một vụ nuôi. Hơn nữa, đánh giá chất lượng nước bằng cảm quan chỉ hiệu quả với những người đã có nhiều năm kinh nghiệm. Nếu bạn mới bắt đầu nuôi tôm, cần phải thực hiện một cách nghiêm túc các công đoạn trong quá trình cải tạo ao, dự đoán thời điểm có thể xảy ra sự cố và thường xuyên quan trắc các yếu tố môi trường quan trọng trong suốt quá trình nuôi.

Tôm thẻ chân trắng là loài rộng muối. Nhờ vậy chúng được thả nuôi ở cả 3 vùng nước: mặn, lợ và ngọt. Tuy nhiên, độ mặn chỉ là một trong nhiều yếu tố môi trường cần phải kiểm soát. Không phải nguồn nước cấp nào cũng có tính chất tự nhiên thuận lợi cho việc nuôi tôm. Các yếu tố môi trường cơ bản của nguồn nước ban đầu cần được kiểm tra gồm độ mặn, độ pH, độ kiềm và hàm lượng chất hữu cơ.

Độ mặn phù hợp để nuôi tôm thẻ chân trắng dao động từ 5 – 35 %o. Những vùng có độ mặn thấp hơn 5 %o thường có độ kiềm thấp (20 – 60 mg CaCO3/l), khiến cho pH biến động lớn hoặc không đáp ứng được nhu cầu về khoáng của tôm nuôi. Gặp trường hợp này người nuôi tôm cần bón vôi, bổ sung thêm khoáng tổng hợp và kali (K+). Khi cần nâng nhanh độ kiềm trong ao, ví dụ như sau khi tôm lột xác, nên sử dụng NaHCO3. Độ kiềm của nước trong ao cần phải được duy trì ở mức 80 – 120 mg CaCO3/L.

Để kiểm soát tốt dịch bệnh, độ pH của nước trong ao nuôi tôm nên được duy trì trong khoảng từ 7,2 – 7,8. Biên độ dao động cực đại trong ngày không quá 0,5. Kinh nghiệm sản xuất trong giai đoạn 2013 – 2015 cho thấy nếu kiểm soát pH ổn định trong khoảng này, cơ hội thành công rất cao. Để nâng độ pH, người nuôi tôm có thể dùng vôi. Để giảm độ pH thì đưa mật rỉ đường trực tiếp xuống ao hoặc sục khí với chế phẩm vi sinh tốt khoảng 24 – 36 giờ trước khi sử dụng. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hiệu quả tốt chỉ có nếu ao nuôi được đầu tư đầy đủ hệ thống quạt nước, giúp khuấy đảo và cung cấp đủ oxy.

Hàm lượng chất hữu cơ trong môi trường ao nuôi là yếu tố quan trọng cần được kiểm soát một cách chặt chẽ. Các nguồn nước bị ô nhiễm thường có hàm lượng chất hữu cơ cao, tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển và sẽ tiêu tốn nhiều oxy hòa tan. Giải pháp tốt nhất là sử dụng ao lắng. Khi các chất lơ lửng đã lắng xuống đáy, ta có thể bơm nước vào ao nuôi, chạy quạt liên tục vài ba ngày để các chất hữu cơ hòa tan hoặc chất lơ lửng có kích thước nhỏ có thể phân hủy hoàn toàn rồi hãy xử lý, diệt khuẩn bằng hóa chất. Xử lý nước khi hàm lượng chất hữu cơ còn cao luôn tốn kém hơn và không hiệu quả. Ngoài ra, sau mỗi vụ nuôi, lượng chất hữu cơ tồn tại ở đáy các ao đất là rất lớn. Cần phải cải tạo ao thật kỹ, phơi nắng 3 – 5 tuần để tia cực tím diệt hết khuẩn và các chất hữu cơ được oxy hóa, phân hủy hoàn toàn. Các cơ sở nuôi tôm thành công đều dành từ 6 – 8 tuần để cải tạo ao thật kỹ trước khi vào vụ nuôi chính để có thể nuôi liên tục 2 vụ. Thậm chí, có cơ sở lột cả bạt lót đáy ao và bờ ao để vệ sinh và lót lại trước khi tiến hành cấp nước, xử lý và thả tôm giống.

Nếu người nuôi tôm đã cải tạo ao kỹ, làm đúng qui trình, xử lý nước và tạo môi trường thuận lợi (chạy quạt, ủ phân bón và chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản để gây màu nước, phát triển thức ăn tự nhiên), ngăn chặn các vật trung gian lây nhiễm mầm bệnh vào ao thì tỉ lệ sống và tốc độ phát triển của tôm nuôi trong tháng đầu tiên thường chỉ phụ thuộc vào chất lượng tôm giống và mức độ chăm sóc mà cụ thể là cách cho ăn và quản lý thức ăn.

 Ngoại trừ các diễn biến bất thường của thời tiết, hầu hết các sự cố gặp phải trong ao nuôi ở các tháng nuôi thứ 2, 3 và sau đó đều có liên quan đến việc quản lý hàm lượng chất hữu cơ tích lũy trong môi trường. Ở tháng nuôi đầu, do tổng khối lượng của đàn tôm không lớn nên lượng thức ăn đưa xuống ao không nhiều. Thức ăn, nếu có dư thừa hoặc do tôm đột ngột giảm bắt mồi, cũng khó gây hậu quả nghiêm trọng và sẽ bị phân hủy để trở thành nguồn dinh dưỡng cho sự phát triển của tảo và các sinh vật khác trong ao. Tuy nhiên, theo thời gian và sự phát triển của tôm, lượng thức ăn đưa xuống ao từ tháng thứ 2 trở đi mỗi lúc một nhiều. Nguy cơ ô nhiễm là thường trực do thức ăn thừa, xác lột của tôm, do phân và các chất bài tiết mà tôm thải ra. Môi trường nước trở nên phì dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho tảo phát triển, làm cho độ pH biến động mạnh theo chiều hướng bất lợi. Sau đó tảo tàn có thể tiêu hao oxy hòa tan, sản sinh ra các độc tố gây yếu hoặc chết tôm nuôi. Nước mất màu, hàm lượng oxy hòa tan giảm mạnh, các chất khí độc bùng phát gây stress cho tôm. Lượng chất hữu cơ trong môi trường càng lớn, nguy cơ nhiễm độc NH3, NO2- hay H2S càng cao và có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Theo chu trình chuyển hóa, sau sự cố về tảo, sẽ là sự cố về NH3 hoặc H2S. Tiếp theo sẽ là sự cố về NO2-.

Để kiểm soát lượng chất hữu cơ, trước hết người nuôi tôm cần đầu tư hệ thống quạt nước, sục khí phù hợp và nâng dần công suất lên theo thời gian nuôi. Một ao nuôi tôm thẻ chân trắng mật độ 150 con/m2 theo thiết kế chuẩn, có diện tích khoảng 1.600 – 2.000 m2, muốn đạt hiệu quả cần được trang bị từ 4 – 5 giàn quạt nước, có công suất từ 2 – 3 mã lực/giàn. Trong tháng nuôi đầu tiên, chỉ cần chạy liên tục 1 giàn vào ban ngày và 2 giàn vào ban đêm là đủ. Nhưng từ tháng thứ 2 thì phải chạy liên tục 2 giàn vào ban ngày và toàn bộ vào ban đêm, đồng thời chuyển sang cho ăn bằng máy tự động để lượng thức ăn đưa vào môi trường duy trì ở mức thấp nhưng liên tục trong ngày. Nếu giám sát tốt (kiểm tra nhá, lặn xem đáy ao) thì sẽ hạn chế được nguy cơ cho ăn thừa. Từ tháng nuôi thứ 3 trở đi, nếu tôm phát triển tốt, lượng tôm trong ao nhiều, thì cần phải bổ sung thêm quạt nước hoặc sục khí đáy, đặc biệt là vào ban đêm hoặc những thời điểm tôm đang lột xác. Giàn quạt cần được bố trí sao cho có thể giúp gom tụ chất thải vào khu vực giữa ao để có thể siphon hết chất thải. Tần suất siphon tăng dần theo thời gian, từ 5 – 7 ngày/lần ở tháng thứ 1, đến 2 – 3 ngày/lần ở tháng thứ 2 và hàng ngày ở tháng thứ 3.

Tiếp theo, cần sử dụng chế phẩm vi sinh loại tốt hàng ngày để cải thiện tốc độ chuyển hóa của vật chất trong ao, giúp cho môi trường được sạch và ổn định. Sự phát triển của các lợi khuẩn có trong chế phẩm vi sinh còn ức chế các vi sinh vật gây bệnh. Để giảm chi phí và tăng hiệu quả sử dụng, người nuôi tôm cần tìm hiểu và thực hành qui trình nuôi tăng sinh khối lợi khuẩn đơn giản (Hình 2, xem chi tiết ở trang 73 tài liệu “Thực hành nuôi tôm thẻ chân trắng hiệu quả, bền vững” của Skretting Vietnam 2015). Lưu ý là hiệu quả của lợi khuẩn chỉ có nếu hàm lượng oxy hòa tan của nước trong ao được duy trì ở mức cao và môi trường nước được khuấy đảo thường xuyên.


Hình 4: Tôm nuôi phát triển tốt sau 43 ngày thả trong môi trường giàu oxy, chất lượng nước được quản lý tốt.

Về cơ bản, người nuôi cần phải dự báo tốt diễn biến của môi trường nước trong ao nuôi hoặc các thay đổi bất thường của thời tiết để có biện pháp can thiệp trước khi sự cố xảy ra hoặc can thiệp kịp thời khi chúng mới nảy sinh. Một khi môi trường nước ao đã trở nên bất lợi thì giải pháp tốt nhất là thay nước, kể cả sử dụng nguồn nước chưa kịp xử lý nếu việc thay nước là khẩn cấp nhằm làm giảm ngay hàm lượng của các chất gây ô nhiễm hoặc mật độ tác nhân gây bệnh. Làm tốt những điều nêu trên và luôn tâm niệm “nuôi tôm là nuôi nước”, chắc chắn thành công sẽ sớm đến và đến nhiều hơn với bạn.

PGS TS Hoàng Tùng

Chủ động phòng trị dịch bệnh trên tôm nuôi


Trước tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi thương phẩm ngày càng diễn ra phức tạp, gây thiệt hại lớn tại các vùng nuôi tôm trọng điểm trên cả nước, vừa qua, tại Nha Trang, Tổng cục Thủy sản đã phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Đại học Nha Trang tổ chức Hội thảo khoa học “Tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi và biện pháp phòng trị” nhằm đưa ra những giải pháp phòng trừ dịch bệnh trên tôm nuôi.

Chủ động phòng trị dịch bệnh trên tôm nuôi

Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, xuất khẩu thủy sản 5 tháng đầu năm 2017 của nước ta đạt kim ngạch 2,47 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2016, trong đó xuất khẩu tôm đạt 1,03 tỷ USD, chiếm 41,9%. Tuy nhiên, kết quả điều tra 5 tháng đầu năm 2017 cho thấy, diện tích tôm trên cả nước bị bệnh đốm trắng là 1.656,2ha, chiếm khoảng 14,5% diện tích thiệt hại, trong đó tỉnh Cà Mau có diện tích bị bệnh đốm trắng lớn nhất (chiếm 24,4% tổng diện tích bị bệnh của các tỉnh), sau đó đến tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bến Tre và các địa phương khác. Đối với bệnh hoại tử gan tụy, diện tích bị bệnh là 1.557ha, chiếm khoảng 13,6%, trong đó tỉnh Bạc Liêu có diện tích bị bệnh lớn nhất (chiếm hơn 25,7% tổng diện tích tôm bị bệnh), tiếp đó là các tỉnh Sóc Trăng, Kiên Giang, Trà Vinh... Ngoài ra, thời gian qua tôm nuôi cũng xuất hiện các bệnh khác như đỏ thân, bệnh còi, bệnh phân trắng…

Tại Hội thảo, PGS - TS Trang Sĩ Trung (Hiệu trưởng Trường ĐH Nha Trang) cho biết, tôm nuôi hiện nay ngày càng phát sinh nhiều bệnh nguy hiểm, chính vì vậy việc ngăn chặn hiệu quả các loại dịch bệnh trên tôm là nhiệm vụ quan trọng quyết định đến đời sống của hàng vạn người nuôi trồng thủy sản và kim ngạch xuất khẩu. Theo các chuyên gia, bà con ngư dân, chủ trang trại muốn tránh thiệt hại cần điều trị đúng bệnh cho tôm nuôi. Để phòng trị bệnh hoại tử gan tụy (gọi tắt là AHPND), biện pháp hàng đầu là dùng dầu của các loài thực vật như Lavandula, Pinus sylvestris, Viola odorata, Cosos nucifera... trộn với thức ăn. Hỗn hợp dầu thực vật này đã được kiểm chứng cho thấy kiểm soát tốt bệnh AHPND. Bên cạnh đó, để phòng và trị bệnh cho tôm nuôi hiệu quả, cần thay thế thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản, bổ sung các chất khoáng và prebiotic trong thức ăn của thủy sản nuôi…  Cùng với việc tăng cường phòng, trị bệnh tốt cho tôm, Trung tâm Khuyến nông quốc gia và các nhà khoa học khuyến cáo người nuôi tôm nên áp dụng các mô hình hiệu quả như mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng theo VietGAP, mô hình nuôi tôm theo công nghệ Biofloc, mô hình nuôi luân canh tôm sú - rong câu...

Tổng cục Thủy sản cũng yêu cầu các địa phương cần phổ biến, hướng dẫn cho người nuôi lựa chọn tôm giống có nguồn gốc rõ ràng, được kiểm dịch và có chất lượng tốt; áp dụng quy trình nuôi theo 2 giai đoạn (vèo giống); ứng dụng các mô hình nuôi thành công theo công nghệ mới; thực hiện ương/vèo giống (20-25 ngày) để có cỡ giống lớn thả nuôi thương phẩm cho tất cả các hình thức nuôi.

Trong đó đối với vùng nuôi tôm quảng canh và quảng canh cải tiến, nếu người dân không có điều kiện để ương/vèo, địa phương cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp ương/vèo thành giống lớn trước khi xuất bán cho người nuôi để đảm bảo mùa vụ và hiệu quả sản xuất. Đồng thời, các địa phương cũng cần tăng cường quản lý, giám sát dịch bệnh tại các cơ sở ương dưỡng tập trung để kiểm soát được chất lượng con giống và dịch bệnh. Tập thể, cá nhân nuôi tôm cần thực hiện “3 không”: Không giấu dịch, không xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường và không xả bỏ tôm chết, tôm bệnh ra ngoài môi trường.

Nếu bà con cần tư vấn sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản hãy liên hệ ngay Đường dây nóng: 0908.901.955 để được tư vấn nhanh chóng và chính xác.


Vai trò của đất nền đáy ao trong nuôi trồng thủy sản?


Nền đáy ao nuôi thủy sản là nơi chứa đựng các sản phẩm tồn dư do trong các thành phần chúng ta đưa xuống như vôi, thuốc, hóa chất, phân tôm cá, xác tôm cá chết,... trong quá trình nuôi. Các sản phẩm hữu cơ theo thời gian, do sự rửa trôi, xói mòn, rò rỉ tích tụ dần xuống đáy ao nuôi. Cũng chính nơi đây quá trình hấp thu, phân giải, phân hủy vật chất hữu cơ diễn ra hết sức mạnh mẽ, các loại khí độc như H2S, NO2  được sinh ra nhiều hơn và liên tục hơn với cường độ mạnh dần qua các tháng nuôi. Như vậy, nền đáy ao bị ô nhiễm do công tác cải tạo, xử lí ao trước mỗi vụ nuôi còn xem nhẹ hoặc tiến hành sơ sài, công tác nạo vét bùn đáy không đạt yêu cầu.

Việc lấy nước trực tiếp từ sông rạch vào thẳng ao nuôi không qua hệ thống ao lắng lọc, ao xử lí. Lạm dụng quá mức trong việc dùng vôi, thuốc, hóa chất trong việc xử lí dịch bệnh, nguồn nước, môi trường. Chưa quan tâm và đánh giá đúng vai trò của màu nước trong ao nuôi, dẫn đến tình trạng tảo không phát triển hoặc phát triển quá mức, gây hiện tượng nở hoa và tàn lụi dần, đóng góp vào nền đáy hàm lượng chất hữu cơ ô nhiễm đáng kể. Cho ăn quá dư thừa, quản lí việc cho ăn còn thiếu kinh nghiệm, không bố trí việc cho tôm, cá ăn hợp lí như thời điểm cho ăn, địa điểm cho ăn, sử dụng loại thức ăn không đúng cho từng độ tuổi và khả năng tăng trưởng của cá. Hiện tượng sạt lở, xói mòn thường xuyên xảy ra nhất là vào mùa mưa.

Khi nền đáy ô nhiễm xuất hiện những ảnh hưởng gì đến vật nuôi thủy sản?

Quá trình phân hủy vật chất hữu cơ ở đáy ao diễn ra mạnh, có rất nhiều O2 trong ao được lấy để sử dụng cho quá trình này. Do vậy, ao dễ thiếu oxy cục bộ dưới đáy. Cùng với quá trình thiếu hụt dưỡng chất tại ao, nhiều khí độc được sinh ra như NH3, H2S, NO3. Ngoài việc những khí này rất độc với tôm cá nuôi, những khí này còn tác động làm cho độ phèn (pH), hệ đệm Bicarbonat... tăng giảm thất thường trong ngày, giữa sáng và chiều. Do những thay đổi này, cá tôm nuôi trong ao phải thường xuyên thay đổi, điều tiết, cân bằng nên dễ bị sốc. Mặt khác do độ phèn bất ổn, nên quá trình quang hợp tạo khí oxy diễn ra rất hạn chế, nhưng quá trình hô hấp tạo khí CO2 vào ban đêm vẫn diễn ra bình thường, cùng với qúa trình phân hủy hữu cơ nơi đáy ao đưa tới việc gia tăng nhanh chóng hàm lượng khí cacbonic(CO2), gây khó khăn cho quá trình hô hấp của vật nuôi thủy sản trong ao, ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ lệ sống.

Tôm cá nuôi trong ao thường tăng trưởng chậm, còi cọc, dễ bệnh và thời gian nuôi kéo dài. Những tác động này còn ảnh hưởng kéo dài đến vụ nuôi sau, gây khó khăn trong việc gây màu nước và giữ màu nước. Môi trường đáy ao dơ bẩn không còn là nơi an toàn để vật nuôi thủy sản trong ao sinh sống, chúng dần chuyển lên tầng nước trên và gây nên sự tâp trung cục bộ với mật độ dày. Ngoài những biện pháp tích cực thực hiện đồng bộ ngay từ công đoạn cải tạo và xử lí ao, sên vét bùn đáy, xảm mọi, gia cố bờ bọng...

Việc hạn chế tối đa dùng các loại thuốc, hóa chất và đặc biệt là việc quản lí thức ăn như hàm lượng, thành phần các chất trong thức ăn, lượng thức ăn hàng ngày sử dụng, số lần cho ăn trong ngày, vị trí cho ăn. Đặc biệt lưu ý đến thời điểm môi trường có những thay đổi bất thường, thời điểm vật nuôi có những thay đổi về mặt sinh lí như tôm lột, cá bệnh... cần phải điều chỉnh lại lượng thức ăn cho hợp lí. Trong nuôi trồng thủy sản ở dạng bán thâm canh, thâm canh, việc sử dụng máng ăn (sàng ăn) cần được quan tâm và thực hiện nghiêm túc, đây là cơ sở vững chắc giúp người nuôi thủy sản đánh giá chính xác mức độ sử dụng thức ăn hàng ngày của vật nuôi, tình trạng sức khỏe của vật nuôi, tốc độ tăng trưởng của vật nuôi nhằm điều chỉnh cho phù hợp với thực tế tại ao, tránh cho ăn theo dạng quán tính.

Các mô hình nuôi thủy sản cần mạnh dạn đưa vào hệ thống nuôi của mình ao lắng lọc, ao xử lý nước thải và khai thác tối đa vai trò của các loại ao này. Định kỳ hàng tuần, nhất là từ tháng nuôi thứ 2 trở đi nên dùng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản, men vi sinh bón xuống ao giúp phân giải và giảm thiểu các chất độc hại, ngăn chặn sự phát tán của dịch bệnh, tăng cường hệ miễn dịch và sức đề kháng của vật nuôi. Từ tháng nuôi thứ 2, việc thay nước dựa vào chất lượng nguồn nước ao nuôi, điều chỉnh lượng nước thay cho phù hợp. Sự thành công các mô hình nuôi thủy sản gắn liền với việc quan tâm và chủ động trong việc ổn định nền đáy ao nuôi theo hướng hợp lí, hướng các mô hình nuôi thủy sản thực sự ổn định, bền vững và hiệu quả.

Một số nguyên nhân tác động xấu đến nền đáy ao nuôi

-   Lấy nước trực tiếp từ sông rạch vào thẳng ao nuôi không qua hệ thống ao lắng lọc, ao xử lí.
-   Lạm dụng việc dùng vôi, thuốc, hóa chất trong việc xử lí dịch bệnh, nguồn nước, môi trường.
-   Tình trạng tảo không phát triển hoặc phát triển qúa mức, gây hiện tượng nở hoa và tàn lụi dần, đóng góp vào nền đáy hàm lượng chất hữu cơ ô nhiễm đáng kể.
-   Cho ăn quá dư thừa, quản lí việc cho ăn còn thiếu kinh nghiệm, không bố trí việc cho tôm, cá ăn hợp lí.
-   Hiện tượng sạt lở, xói mòn thường xuyên xảy ra nhất là vào mùa mưa.

Làm sao để xử lý đáy ao hiệu quả?

Để xử lý bùn đáy ao hiệu quả, các chuyên gia khuyên bà con nên sử dụng men vi sinh xử lý bùn đáy ao nuôi thủy sản EcoClean Sludge Reducer của Mỹ. Đây là sản phẩm bao gồm hàng tỉ tế bào được phân lập chuyên biệt cho xử lý bùn đáy ao nên sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với các loại men vi sinh "đa năng" trên thị trường.

Cụ thể, E. Sludge Reducer là một công thức pha trộn vi sinh và hỗn hợp của 23 vitamin thiết yếu, kích thích sinh học, các enzyme để xử lý bùn đáy. Sản phẩm giúp tiết kiệm chi phí nạo vét và giảm hình thành bùn đáy, loại bỏ khí độc tích tụ trong lớp bùn.

Mọi chi tiết bà con vui lòng liên hệ đến Hotline: 0908.901.955 để được tư vấn miễn phí, hoặc gửi thư về địa chỉ admin@moitruongdeal.com.

vi sinh xử lý bùn đáy ao nuôi thủy sản


Lợi ích khi sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản và những điều cần lưu ý


Sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi thủy sản (men vi sinh) là hướng đi có ý nghĩa thực tiễn nhằm bảo vệ môi trường và đảm bảo hiệu quả sản xuất. Từ đó, góp phần đưa nghề nuôi thủy sản phát triển bền vững.

Hai thành phần chính của men vi sinh là vi khuẩn có lợi và các chất dinh dưỡng để nuôi vi khuẩn. Vi khuẩn có lợi được phân lập từ nhiều nguồn khác nhau. Chúng gồm các loài như:  Bacillus sp., Nitrosomonas, Nitrobacter… Chất dinh dưỡng là các loại như đường, muối canxi, muối magiê…

Về hình thức, men vi sinh có 02 dạng, dạng nước và dạng bột (hay dạng viên). Bình thường, dạng bột có mật độ vi khuẩn có lợi cao hơn so với dạng nước. Về chủng loại, men vi sinh có 02 loại, loại dùng để xử lý môi trường (loài vi khuẩn chính là  Bacillus sp. ) và loại trộn vào thức ăn (loài vi khuẩn chính là Lactobacillus).

Một số dòng vi sinh bà con có thể tham khảo như:

Vi sinh xử lý nước ao nuôi thủy sản

Tập hợp các chủng vi sinh được phân lập chuyên biệt để xử lý tảo và làm sạch ao nuôi thông qua cơ chế cạnh tranh thức ăn trong nước. Bên cạnh đó còn có thêm chất phụ gia và hàng tỉ tế bào vi sinh xử lý nước ao nuôi nhằm kích thích tăng trưởng của tôm và cá.

Vi sinh xử lý bùn đáy ao nuôi thủy sản

Là công thức pha trộn độc quyền vi sinh và hỗn hợp của 23 vitamin thiết yếu, kích thích sinh học, các enzyme để xử lý bùn đáy. Giúp bà con xử lý bùn đáy ao hiệu quả, tiết kiệm nhiều chi phí nạo vét, bên cạnh đó còn giúp làm giảm hình thành bùn đáy, loại bỏ khí độc tích tụ trong lớp bùn.

Vi sinh xử lý khí độc Ammonia và khí độc NO2 trong ao nuôi thủy sản

H2S, NO2 là những “sát thủ thầm lặng” luôn tồn tại trong ao nuôi thủy sản và sẵn sàng gây hại cho tôm, cá nuôi bất cứ thời điểm nào. Nhưng, bà con chỉ cần sử dụng EcoClean AM để đánh là có thể xử lý dễ dàng. Công thức pha trộn từ các vi khuẩn tự nhiên được phân lập chuyên biệt (8 loại vi khuẩn kỵ khí tùy nghi) để loại bỏ Ammonia và NO2 hiệu quả (không phải cơ cấu cấy ghép di truyền) của sản phẩm giúp làm giảm BOD, COD và mùi phát sinh từ hoạt động của vi khuẩn kỵ khí. Làm giảm đáng kể chi phí nạo vét và hóa chất cho quá trình xử lý.

Các lợi ích mang lại khi sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản:

1. Làm ổn định chất lượng nước và nền đáy trong ao nuôi tôm, cá.

2. Nâng cao sức khoẻ và sức đề kháng của tôm, cá.

3. Giảm thiểu ô nhiễm môi trường ao nuôi và xung quanh do nuôi thuỷ sản gây nên.

4. Nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn.

Các lợi ích đạt được như trên là do hoạt động tích cực của vi khuẩn qua một hay nhiều cơ chế tác động:

1.  Cạnh tranh mạnh mẽ chất dinh dưỡng, năng lượng và giá thể với các loài vi khuẩn có hại khác và tảo độc.

2.  Chuyển hóa các chất hữu cơ như thức ăn dư, xác tảo, cặn bã thành CO2 và nước; chuyển các khí độc như NH3, NO2 thành các chất không độc như NH4+, NO3–.

3. Hạn chế vi khuẩn có hại trong đường ruột và giúp chuyển hoá hiệu quả thức ăn.

4.  Tiết ra một số chất kháng sinh, enzyme để kìm hãm hay tiêu diệt mầm bệnh.

Để men vi sinh phát huy hiệu quả cao, người nuôi thủy sản phải tuân thủ một số nguyên tắc dùng sau đây:

– Pha loãng men vi sinh bằng nước trong ao nuôi, cho vào xô, thau, sau đó sục khí 4 – 5 giờ đến khi men có mùi chua hay pH giảm thì đem bón.

– Định kỳ dùng trong quá trình nuôi. Thông thường 7 – 10 ngày/lần đối với loại xử lý môi trường và luân phiên sử dụng 5 ngày, sau đó ngưng 5 ngày đối với loại trộn vào thức ăn. Sử dụng cùng lúc với bón phân gây màu nước hay sau khi nước đã lên màu.

– Liều lượng dùng phải theo đúng theo đề nghị của nhà sản xuất.

– Khi môi trường ao nuôi có dấu hiệu hay đang suy giảm chất lượng như hàm lượng khí độc cao (NH3, H2S, NO2…), nước nhiều cặn bã, nước phát sáng thì men vi sinh được sử dụng sớm hơn so với thường ngày với liều lượng tăng gấp 2 lần so với đề nghị.

– Không được sử dụng men vi sinh cùng với các loại hoá chất có tính diệt khuẩn như BKC, thuốc tím, Chlorine, i-ốt, kháng sinh. Đồng thời, không được sử dụng men vi sinh khi các chất trên đang hiện diện trong môi trường nước hay trong thân tôm, cá nuôi.

– Trước khi bón men vi sinh cần cải thiện môi trường ao nuôi bằng các biện pháp như thay nước, bón vôi nâng pH lên 7,5 – 8,5, bón vôi + Dolomite + Khoáng nâng cao độ kiềm.

Men vi sinh sẽ có hiệu quả sau khi sử dụng 2 – 4 ngày, thể hiện qua màu nước và các chỉ tiêu môi trường.

Kết quả thực hiện tại Trung tâm Tập huấn và Chuyển giao công nghệ Nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Nuôi tôm thẻ chân trắng bằng quy trình vi sinh, sau 2 đợt nuôi cho kết quả như sau:Tác dụng đối với môi trường ao:
– Ổn định pH (dao động từ 8,0 – 8,3 trong suốt quá trình nuôi),

– Màu nước: tháng thứ nhất độ trong từ 25 – 35cm, sau tháng thứ 2 trở đi thì nước đục.

– Bùn đáy ao, lượng phân tôm, thức ăn thừa và các chất hữu cơ khác giảm 50% so với ao không sử dụng vi sinh định kỳ.

– Giảm Nitrite, Nitrate, giảm mùi hôi của các khí độc, kiểm soát hiệu quả sự kết váng trên bề mặt và bùn đáy ao, tạo môi trường ổn định. Hàm lượng khí độc NH3 < 0,01mg/lít, NH4+ <0,2 mg/lít.

Hiệu quả:

– Tôm phát triển nhanh, năng suất tôm lên đến 20 tấn/ha.

– Kích cỡ tôm sau 75 ngày nuôi đạt: 65 con/kg (15,4 gram/con).

Tóm tắt quá trình sử dụng men vi sinh:

– Trước khi thả giống 2 – 3 ngày: sử dụng vi sinh với liều dùng gấp đôi so với hướng dẫn của nhà sản xuất.

– Tháng thứ nhất: định kỳ 5 ngày đánh 1 lần, với liều dùng của nhà sản xuất.

– Tháng thứ hai: định kỳ 4 ngày đánh 1 lần, với liều dùng của nhà sản xuất.

– Tháng thứ ba trở đi: định kỳ đánh 3 ngày 1 lần, với liều dùng của nhà sản xuất.


Phân tích thông số chất lượng nước khả thi trong nuôi tôm


Muhammad Kasnir và ctv, Đại học Indonesia Moeslim, Indonesia, thực hiện các nghiên cứu hóa lý tài nguyên nước ở quận Mangara Bombang, Nam Sulawesi về những vấn đề liên quan đến tiềm năng trong nuôi tôm.

Giới thiệu

Sản xuất tôm sú ở Nam Sulawesi đạt khoảng 12.599,50 tấn trong năm 2007. Trên thế giới, sản xuất tôm xếp hạng thứ tư sau quần đảo Riau, Sumatra Bắc và Tây Java. Sản lượng sản xuất tôm sú chủ yếu ở Regencies, trong đó có những khu vực ven biển ở tỉnh Nam Sulawesi. Một trong số đó là Takalar Regency, đặc biệt là ở quận Mangara Bombang. Tiềm năng của ngành thủy sản có thể được phát triển trong khu vực ven biển của Mangara Bombang là nuôi tôm trong ao.

Nuôi tôm trong ao được mở rộng để trở thành một ngành công nghiệp sinh học thực phẩm và được chứng minh là nguồn mang lại ngoại hối, cung cấp protein động vật và tạo cơ hội việc làm. Sự tồn tại của ngành phụ thuộc vào hỗ trợ mở rộng thị trường, giá cả ổn định, hỗ trợ kỹ thuật trong quá trình sản xuất, thương mại, quỹ đất tiềm năng và chính sách hỗ trợ từ Chính phủ làm cho các mặt hàng tôm liên tục phát triển và ngày càng mở rộng như là hàng hóa tuyệt vời để gia tăng ngoại hối. Tuy nhiên, nuôi trồng thủy sản bền vững trong ao tăng cao phụ thuộc vào các khía cạnh năng động từ chất lượng môi trường ven biển như là kết quả của bất kỳ sự tương tác giữa người sử dụng ở các khu vực ven biển, bên cạnh các hoạt động nuôi trồng thủy sản ao nội tại.

Mangara Bombang là một trong những huyện nằm ở khu vực ven biển Takalar Regency, trong đó tiềm năng nuôi trồng thủy sản tiếp tục phát triển. Do đó, nơi đây được chọn là một trong những trung tâm khu vực phát triển nuôi trồng thủy sản của Chính phủ Takalar Regency. Trồng rong biển và nuôi tôm là một trong những hoạt động nuôi trồng thủy sản phát triển trong thời gian hiện nay ở quận này. Toàn bộ ao ở khu vực ven biển của Mangara Bombang là 863,097 ha. Trong đó có 35,98 ha và 827,117 ha sử dụng một công nghệ thâm canh và thâm canh truyền thống vào việc quản lý tương ứng.

Chính phủ Takalar qua Marine và Dịch vụ thủy sản, vào năm 2008 thiết lập kế hoạch chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản và một trong số đó là sự phát triển nuôi trồng thủy sản trong ao. Đặc biệt ở quận Mangara Bombang có 1.851 ha và 335 ha khu vực ven biển được sử dụng nuôi tôm đơn canh và phát triển mô hình tôm cá với mục tiêu sản xuất 2.696,13 tấn và 125,10 tấn.

Ngoài hoạt động nuôi tôm, những ao trong khu vực ven biển của huyện Mangara Bombang trong thời gian hiện tại và cũng đang phát triển trong tương lai sẽ dẫn đến thiệt hại về môi trường nước trong một ngày gần nhất nếu không có bất kỳ sự quản lý tốt. Sự tồn tại của môi trường nước bị ô nhiễm cuối cùng sẽ đe dọa tính bền vững của nguồn lợi cá tôm trong ao. Vì vậy, nghiên cứu này nhằm mục đích xác định điều kiện chất lượng nước cho sự bền vững của nghề nuôi tôm ao ở khu vực ven biển của huyện Mangara Bombang. Nghiên cứu này được dự kiến ​​sẽ cung cấp thông tin cho nông dân nuôi tôm ao để tăng sản xuất. Ngoài ra, các dữ liệu thu được có thể được sử dụng như là các dữ liệu hỗ trợ trong xây dựng chính sách của Chính phủ đối với việc lập kế hoạch và quản lý diện tích ao nuôi tôm.

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu này đã được thực hiện ở khu vực trang trại nuôi tôm trong những khu vực ven biển của huyện Mangara Bombang, Takalar Regency, Nam Sulawesi, Indonesia bắt đầu từ tháng 6 năm 2010 đến tháng 7 năm 2010.

Phương pháp nghiên cứu

Việc thu thập dữ liệu và sinh lý chất lượng nước bao gồm chất lượng ao đất, chất lượng nước, hải dương học (thủy triều, tốc độ và độ sâu), chất lượng trầm tích nuôi tôm và các vùng nước ven biển dữ liệu đất tại địa phương. Dữ liệu chất lượng đất tại ao được thu thập từ 10 trạm ở một số ao. Trong khi đó, đối với các vùng nước ven biển, chất lượng nước được thu thập dữ liệu từ 6 trạm gồm 2 trạm sông, 2 trạm ao và 2 trạm từ cửa sông. Hơn nữa, dữ liệu chất lượng bề mặt cơ sở nuôi tôm, chất lượng trầm tích trang trại và các vùng nước ven biển được thu thập từ 2 trạm và 13 điểm lấy mẫu tương ứng.

Dữ liệu và dữ liệu nguồn

Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được sử dụng trong nghiên cứu này. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua quan sát và phỏng vấn trực tiếp tại địa điểm trong khi nghiên cứu, dữ liệu thứ cấp được thu thập thông qua việc tìm kiếm tài liệu tham khảo khác nhau ở một số cơ quan của chính phủ và phi chính phủ có liên quan đến nghiên cứu. Một số thông số chất lượng nước được liệt kê trong bảng 1 đó là những thông số quan trọng góp vào thành công trong nuôi tôm. Việc giám sát và thu thập mẫu của chất lượng nước được thực hiện trực.

Kết quả và thảo luận

Chất lượng nước là một trong những yếu tố quan trọng trong việc xác định thành công các hoạt động của nghề nuôi tôm.

Nhiệt độ nước

Đo nhiệt độ nước trong nuôi tôm theo hướng truyền thống đã thu được nhiệt độ là 29,56 ± 0.75°C. Trong khi đó, nhiệt độ của nước ao cho thấy kết quả đo nhiệt độ ở các vùng nước ven biển và sông là 28,56 ± 2,72°C, 26,77 ± 1,94°C. Quan sát nhiệt độ cho thấy nằm trong khoảng thích hợp nuôi tôm. Báo cáo của Boyd, Poernomo, Widigdo, Soewardi phạm vi nhiệt độ từ 20 đến 32°C là những giá trị nhiệt độ được khuyến cáo trong nuôi tôm và từ 29 đến 30°C là nhiệt độ tối ưu cho sự phát triển tôm nuôi.

Độ mặn

Kết quả đo độ mặn cho thấy độ mặn thu thập được trong vùng nước sông và ven biển vẫn còn trong các giá trị khuyến nghị cụ thể là 17.95 ± 3.79 ‰ và 30.90 ± 4.01 ‰. Theo Boyd, Poernomo, Widigdo, Soewardi, độ mặn từ 5 – 35 ‰ rất thích hợp cho nuôi tôm và độ mặn từ  15 – 25 ‰ là độ mặn khuyến cáo cho sự phát triển tối ưu của tôm.

pH

Kết quả đo pH ở những vùng nước nuôi tôm trong 24 giờ là 8,17 ± 0,38. pH của nước ao thu được là khoảng 8,06 – 8,17, trong đó, pH cao nhất (8,17) là 12.00 – 13.00 và thấp nhất là 01.30 và 03.30 – 04.00. Kết quả đo pH ở sông và vùng nước ven biển tương ứng là 7,77 ± 0.42 và 8,06 ± 0.40. Giá trị pH vẫn còn trong khoảng thích hợp cho nuôi tôm là 6,5 – 8,5 với ngưỡng pH tối ưu là 8,0 – 8,5 (ngưỡng cho phép 6 – 9).

Oxy hòa tan

Duy trì hàm lượng DO ở mức phù hợp trong ao nuôi là điều rất quan trọng quan trọng cho sự sống còn của tôm và khi tiếp xúc kéo dài với stress oxy ở nồng độ thấp có thể ức chế sự tăng trưởng tôm. Nghiên cứu này tập trung vào DO và xem đây là điều hiển nhiên chấp nhận được đối với một ao tôm. Trong thời gian quan sát, nồng độ oxy hòa tan ở những vùng nước dao động 6.65 ± 1.08 mg/l. Trong khi đó, nồng độ oxy hòa tan trong trại nuôi tôm trong 24 giờ sau khi quan sát dao động 5,89 – 6,02 mg/l với oxy hòa tan cao nhất là (6,02 mg/l) là 12.00 giờ và mức thấp nhất (5,89 mg/l) là 20.00 giờ. Ngoài ra, nồng độ oxy hòa tan trong sông và vùng nước ven biển tương ứng là 6,02 ± 0,86 và 5,88 ± 1,42 mg/l. Giá trị này vẫn còn thích hợp cho nuôi tôm theo báo cáo của Boyd, Poernomo, Widigdo, sự bão hòa oxy hòa tan trong nuôi tôm là ≥ 3 mg/l (3 -10 mg/l) và ngưỡng oxy tối ưu từ 4 – 7 mg/l. Cheng và ctv báo cáo rằng giá trị DO cao hơn 5 mg/l thường được đề nghị cho thực hành nuôi thâm canh.

Tổng số chất rắn lơ lửng (TSS)

Kết quả đo cho thấy giá trị TSS trong nuôi tôm là 37,73 ± 12,44 mg/l, trong khi đó, giá trị TSS trong trại nuôi tôm truyền thống là 55,20 ± 10,54 mg/l. Hơn nữa, giá trị này ở vùng ven biển và sông là 58,17 ± 22,18 mg/l và 60,13 ± 15,45 mg/l. Tuy nhiên, TSS vẫn còn trong giới hạn sai lệch ở mức cho phép trong báo cáo của Widigdo, Bộ Môi trường cho trang trại nuôi tôm là 25 – 80 mg/l.

Nhu cầu oxy sinh hóa/BOD5

Đo BOD5 với giá trị là 1,16 ± 0.53 mg/l, trong khi đó, giá trị BOD5 cho các vùng ven biển và sông là 0,74 ± 0.27 mg/l và 1,32 ± 0.80 mg/l. Giá trị BOD5 vẫn còn thích hợp cho nuôi tôm dựa trên giá trị khuyến cáo BOD5 của Bộ Môi trường (2004) là < 25 mg/l. Xét về mức độ ô nhiễm, chất lượng nước ven biển của huyện Mangara Bombang nằm trong khu vực không bị nhiễm và rất thích hợp cho nuôi tôm.

Amoniac (NH3-N)

Quan sát amoniac (NH3-N) trong các vùng nước nuôi tôm là 0,02614 ± 0,3355 mg/l. Trong khi đó, kết quả đo amoniac (NH3-N) ở các vùng nước ven biển và sông là 0,2636 ± 0,3303 mg/l và 0,1101 ± 0,0812 mg/l. Giá trị ammonia vẫn còn trong lưu giới hạn cho phép nuôi tôm dựa trên ammonia (NH3-N) theo thông tin từ Boyd, Poernomo, Widigdo, Bộ Môi trường là < 1,0 mg/l.

Nitrite (NO2)

Đo hàm lượng Nitrite (NO2) trong các vùng nước nuôi tôm là 0,0555 ± 0,0956 mg/l. Trong khi đó, nitrite (NO2-N) ở các vùng nước ven biển và các con sông là 0,2483 ± 0,5690 mg/l và 0,0250 ± 0,0074 mg/l. Giá trị này vẫn còn trong giới hạn cho trang trại nuôi tôm dựa trên các giá trị cho phép theo khuyến cáo là < 0,25 mg/l.

Nitrate (NO3-N)

Hàm lượng Nitrate (NO3-N) ở các vùng nước nuôi tôm là 0,0115 ± 0,0104 mg/l. Trong khi đó, Nitrate (NO3-N) ở vùng nước ven biển và sông là 0,0110 ± 0,0141 mg/l và 0,0924 ± 0,1241 mg/l. Lượng Nitrate (NO3-N) thu thập được chỉ ra rằng Mangara Bombang là khu vực thích hợp cho nuôi tôm.

Orthophosphat (PO43- – P)

Phosphate (PO4-P) thu được ở các vùng nước ao nuôi tôm, vùng ven biển và sông vẫn còn trong giới hạn giá trị cho phép nuôi tôm với giá trị lần lượt là 0,0201 ± 0,0051, 0,0583 ± 0,0648 và 0,0051 ± 0,0037 mg/l. Theo báo cáo của Boyd; Poernomo; Widigdo; Bộ Môi trường, giới hạn giá trị của Phosphate (PO4-P) thích hợp cho hoạt động nuôi tôm là 0,05-0,5 mg/l.

Độ đục

Quan sát giá trị độ đục trong ao tôm là 9,69 ± 3,41 NTU, kết quả thu được trong các vùng nước ven biển và sông là 14,44 ± 17,65 và 21,42 ± 4,43 NTU. Giá trị độ đục vẫn trong giới hạn sai lệch trong nền công nghiệp tôm. Nhìn chung, chất lượng nước ở các khu vực ven biển của huyện Mangara Bombang phù hợp hoặc có thể hỗ trợ cho các hoạt động nuôi tôm dựa trên các tiêu chí được đề nghị bởi Boyd, Poernomo, Widigdo, Soewardi và Bộ Môi trường.

Kết luận

Nghiên cứu này cung cấp các thông tin về tình trạng chất lượng nước của Quận Mangara Bombang và hoàn toàn phù hợp cho nuôi tôm trong ao. Quan sát thực địa chất lượng nước và trong phòng thí nghiệm tiết lộ rằng các khu vực nghiên cứu có tiềm năng phát triển nuôi tôm ao dựa trên các giá trị thu hoàn toàn phù hợp với các giá trị được khuyến nghị cho nuôi tôm.

Góp ý

Để tiếp tục nghiên cứu về tính khả thi của chất lượng nước cho sự phát triển của nghề nuôi tôm theo công nghệ nuôi thâm canh và bán thâm canh nhằm thu được hình ảnh tổng quan về tính khả thi chất lượng nước cho phát triển nuôi tôm ở các công nghệ nuôi khác nhau.

Bài viết được xem nhiều